Hải Ngoại Ngày Nay


LIÊN KẾT HẢI NGOẠI YỂM TRỢ QUỐC NỘI ĐẤU TRANH

GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI VIỆT CỘNG

GIẢi TRỪ HIỂM HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG

Tin Việt Nam – 24/10/2019

Thursday, October 24, 2019 // ,
Tin Việt Nam – 24/10/2019

Vợ Chủ tịch tỉnh Hà Giang bị mời làm việc

liên quan gian lận điểm thi THPT năm 2018

Ngày 24/10, Đoàn công tác của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã làm việc tại Hà Giang với bà Nguyễn Thị Nga – chuyên viên Sở Tài chính, vợ ông Nguyễn Văn Sơn – Chủ tịch tỉnh liên quan đến việc gian lận điểm thi THPT năm 2018 tại tỉnh này.
Tin từ Báo mạng Người Lao động cho biết, Đoàn công tác của Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc về nhiều nội dung, trong đó bao gồm cả việc rà soát, kiểm tra cán bộ, đảng viên vi phạm đợt 2, có liên quan đến vụ nâng điểm thi THPT năm 2018 tại Hà Giang.
Theo báo Người Lao động, dù đoàn công tác không nói rõ tổng số cán bộ trong diện rà soát, xem xét kỷ luật trong đợt này, nhưng bà Nguyễn Thị Nga đã bị mời làm việc trực tiếp.
Ngoài ra, danh sách cán bộ, đảng viên bị xử lý đợt 2 này còn có tên bà Nguyễn Thúy Nga, mẹ của Vương Ngọc Hà – phó trưởng Đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Hà Giang, liên quan đến điểm thi của cháu ngoại bà là Mai Vương B.N.
Phiên tòa xử vụ án gian lận điểm thi THPT năm 2018 tại tỉnh Hà Giang sẽ tuyên án vào ngày 25/10.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Hà Giang đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tội ‘Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ’ đối với 2 người trong phòng Khảo thí và Quản lý chất lượng giáo dục thuộc Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Hà Giang, gồm ông Nguyễn Thanh Hoài – cựu Trưởng phòng mức án 8-9 năm tù; và ông Vũ Trọng Lương – cựu Phó trưởng phòng 7-8 năm tù.
Đối với cựu Phó Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Hà Giang, bà Triệu Thị Chính, mức án từ 24-30 tháng tù về tội ‘Lợi dụng chức vụ quyền hạn gây ảnh hưởng đến người khác để trục lợi’.
Còn bà Lê Thị Dung – cựu cán bộ Công an tỉnh Hà Giang từ 24-30 tháng tù về tội ‘Lợi dụng sự ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi’.
Cùng bị cáo buộc về tội ‘Lợi dụng sự ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi’, một cựu Phó Giám đốc Sở Giáo dục – Đào tạo tỉnh Hà Giang khác là ông Phạm Văn Khuông cũng bị tù từ 12-18 tháng nhưng được hưởng án treo.
Ngoài ra, đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Hà Giang còn đề nghị Hội đồng xét xử có thêm hình phạt bổ sung đối với những bị cáo trên. Cụ thể là cấm các chức vụ quản lý trong ngành giáo dục từ 12-24 tháng sau khi mãn hạn tù.
https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/update-about-examination-fraud-in-ha-giang-10242019084250.html

Con gái của tù nhân lương tâm Huỳnh Trương Ca

gửi thư kêu cứu

Con gái tù chính trị Huỳnh Trương Ca, cô Huỳnh Thị Thái Ngân, có thư gửi đến các tổ chức nhân quyền quốc tế kêu cứu cho người cha hiện đang phải bị đối xử hà khắc trong nhà tù Xuân Lộc.
Trong thư kêu cứu, Cô Huỳnh thị Thái Ngân, nêu rằng cha cô chỉ là một người làm vườn có cuộc sống bình thường như bao nhiêu người khác; thế nhưng sau khi chứng kiến, cũng như trải qua quá nhiều bất công trong xã hội, Ba cô đã chọn cách không im lặng với những sai trái.
Chỉ vì phản đối luật đặc khu qua các buổi livestream trên Facebook, ông đã bị Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp kết tội: “Vu cáo, xuyên tạc đường lối, chủ trương của đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước CHXHCNVN và xuyên tạc tình hình chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam, bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, tạo sự nghi ngờ, bất mãn, tức giận, căm ghét chế độ XHCN và Nhà nước CHXHCNVN, chống Nhà nước CHXHCNVN…”
Ông bị tòa kết án 5 năm 6 tháng tù và 3 năm quản chế với cáo buộc ‘làm, tang trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước’.
Cô Huỳnh Thị Thái Ngân, hôm 24/10/2019 xác nhận với RFA về lá thư kêu cứu:
“Đó là thư trần tình, chuyện của ba làm sao thì em nói y như vậy, em gởi đi hết các tổ chức nhân quyền để giúp đỡ Ba em. Em trình bày hết những khó khăn mà Ba em gặp phải từ lúc mới bị bắt cho đến bây giờ. Và về sức khỏe của Ba Mẹ em nữa, vì từ ngày Ba em đi tù, Ba Mẹ em bị chia cắt không được gặp nhau, nên Mẹ em yếu đi nhiều lắm. Em mong muốn các tổ chức nhân quyền quốc tế giúp đỡ gia đình em và giúp đỡ những gia đình tù nhân lương tâm khác mà gặp phải trường hợp như gia đình em.”
Theo cô Ngân, những lời buộc tội của chính quyền VN là vu khống và quy chụp ba cô, khi ông chỉ đang thực hiện quyền con người đã được ghi trong Hiến pháp. Ba cô không xâm phạm an ninh quốc gia hay làm bất cứ điều gì tổn hại đến đất nước.
Trong thư, cô Ngân cũng cho biết gây, công an đã gây khó dễ cho gia đình cô, bằng cách không cho ba mẹ cô gặp nhau, đã 4 tháng nay mẹ cô không được vào thăm ba.
Cuối thư, cô mong Tổ chức Ẫn xá Quốc tế lên tiếng giúp đỡ gia đình cô, giúp ba Cô đòi lại công bằng và sự tự do, vì Ba cô chỉ đang thể hiện lòng yêu nước bằng quyền của mình. Ba cô không đáng phải gánh chịu những vất vả và áp bức trong lao tù. Gia đình cô không đáng phải gánh chịu sự chia cắt, khó khăn và lo lắng như vừa nêu.
Hôm 13/10/2019 bà Phạm Thanh Tậm, vợ ông Huỳnh Trương Ca, cho RFA biết thông tin rằng hôm 12/10, hai người con của bà đã đi thăm ông Huỳnh Trương Ca và được biết ông đang tuyệt thực. Việc tuyệt thực bắt đầu từ ngày 4 tháng 10.
Theo lời của bà Tâm thì không chỉ mình ông Ca tuyệt thực, mà các tù nhân lương tâm cùng thụ án tại trại giam Xuân Lộc cũng tuyệt thực, để phản đối chế độ hà khắc của nhà tù, vì không cho ông Ca ra ngoài chữa bệnh.
https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/the-daughter-of-prisoner-of-conscience-huynh-truong-ca-sends-a-letter-calling-for-help-to-international-human-rights-organizations-10242019090429.html

Luật sư kiến nghị điều tra lại vụ án truy tố

nguyên Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Hữu Tín

Các luật sư bào chữa cho vụ án nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân (UBND) thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) Nguyễn Hữu Tín cùng 4 cựu giới chức Chính quyền TP.HCM bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” liên quan khu “đất vàng” số 15 Thi Sách, vào ngày 24/10/19 vừa đệ đơn đến Viện Kiểm sát Nhân dân & Tòa án Nhân dân kiến nghị điều tra lại vụ án.
Truyền thông quốc nội trong cùng ngày, dẫn nguồn từ Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) TP.HCM và Tòa án Nhân dân (TAND) TP.HCM cho biết đã nhận được đơn kiến nghị với nội dung vừa nêu.
Hồi cuối tháng 8 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an công bố kết luận điều tra vụ án đối với bị can Nguyễn Hữu Tín cùng 4 đồng phạm bao gồm Đào Anh Kiệt (nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên-Môi trường TPHCM); Nguyễn Thành Chương (nguyên Trưởng phòng đô thị, văn phòng UBND TPHCM); Lê Văn Thanh (nguyên Phó chánh văn phòng UBND TPHCM); Trương Văn Út (nguyên Phó trưởng phòng quản lý đất thuộc Sở Tài nguyên-Môi trường), xác định vụ việc giao nhà, đất tại số 15 Thi Sách (quận 1, TP.HCM) cho Công ty CP xây dựng Bắc Nam 79 (do Phan Văn Anh Vũ, tức Vũ “nhôm” Chủ tịch Hội đồng quản trị) thuê đã gây thiệt hại tài sản của nhà nước số tiền 6,7 tỷ đồng.
Trong đơn kiến nghị vừa đệ trình vào ngày 24/10/19, các luật sư bào chữa cho vụ án cho rằng vụ án còn nhiều vấn đề quan trọng chưa được làm rõ nên cần phải điều tra lại. Các luật sư bào chữa đưa ra 8 vấn đề mấu chốt cần được làm rõ để vụ án được khách quan và công bằng; trong đó đáng chú ý là cần xác định rõ điều kiện, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị can trong vụ án, trách nhiệm của Sở Tài chính trong toàn bộ vụ việc.
Tờ Infonet Online, vào ngày 24 tháng 10 còn đăng tải thông tin các luật sư bào chữa đồng thời cũng kiến nghị TAND TP.HCM về việc “giải mật” một số văn bản trong vụ án của thân chủ họ.
Theo đó, các luật sư cho biết trong quá trình chuẩn bị hồ sơ bào chữa cho các bị cáo, đã phát hiện trong tài liệu có nhiều hồ sơ đóng dấu “Mật” mà nếu bị tiết lộ, hoặc sai về hình thức sử dụng sẽ gây nguy hại, ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia.
Các luật sư bào chữa được Infonet dẫn lời rằng bản thân họ cũng vi phạm quy định của pháp luật về tài liệu mật trong khi chỉ thực hiện công tác của người bào chữa theo quy định.
TAND TP.HCM cho biết dự kiến sẽ mở phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án này trong tháng 11 tới đây.
https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/the-case-of-nguyen-huu-tin-indicted-lawyers-request-for-reinvestigation-10242019092617.html

Đến lượt dân Sài Gòn tố cáo

nước “sạch” bị bẩn gây ghẻ ngứa

Tin Saigon.- Báo Thanh Niên ngày 24 tháng 10 năm 2019 loan tin, người dân sống tại chung cư Prosper Plaza, thuộc quận 12, Sài Gòn vừa phản ánh nguồn nước “sạch” họ đang dùng vừa bị bẩn, vừa gây ghẻ, ngứa cho cơ thể.
Một người dân cho biết, do nghi ngờ chất lượng nguồn nước nên anh dùng chiếc khăn bịt vào vòi xả nước thì một lúc sau chiếc khăn màu trắng đã bị bẩn. Sau một thời gian tắm giặt bản thân anh bị viêm da, nổi mụn khắp cánh tay, còn vợ bị ghẻ đầu, và rụng tóc.
Trên diễn đàn Facebook của chung cư trên, nhiều người cũng đã phản ánh chất lượng nước “sạch” mà họ đang dùng có vấn đề. Một cư dân khác cho biết, có lần anh húp ngụm nước súc miệng, khi nhả ra thấy nguyên một con lăng quăng đang còn sống. Còn con anh sau vài lần tắm thì bé bị nổi mẩn.
Ông Võ Hùng Cường, Trưởng ban cai quản chung cư cho biết, sau khi nhận sự phản ánh của cư dân, vào tháng 9 vừa qua, ban cai quản đã xem xét thì thấy nước có màu bất thường. Tuy nhiên, ông Cường thông báo, kết quả xét nghiệm nước ở viện Pasteur cho thấy nước vẫn đủ tiêu chuẩn (?!). Sau đó, để bảo đảm nguồn nước thì ban cai quản cho súc xả toàn bộ hệ thống. Dù đã được súc xả xong, nhưng chất lượng nước vẫn bẩn như cũ. Người dân đã nghi ngờ vấn đề nằm ở hệ thống cấp nước của công ty cổ phần cấp nước Trung An. Khi công ty này đến kiểm tra và thấy nguồn nước đúng như cư dân phản ánh nên đã thừa nhận nước có vấn đề. Nhưng đến nay nguyên nhân do đâu thì người dân vẫn chưa được biết. Bình luận thêm về sự việc, ông Cường cho rằng, có thể có chuyện những người bán máy lọc nước nhận thấy thị phần lớn ở chung cư, nên tìm cách tác động vào cư dân để gây hoang mang. Và ban cai quản sẽ giải quyết nếu có đủ chứng cứ.
An Nhiên
https://www.sbtn.tv/den-luot-dan-sai-gon-to-cao-nuoc-sach-bi-ban-gay-ghe-ngua/

Thảo luận Luật Lao động VN:

 Cần nhiều hơn là nước mắt cảm thông

Bộ luật Lao động (sửa đổi) đang trình ra để lấy ‎kiến Quốc hội và dự kiến sẽ được thông qua trong Kỳ họp thứ 8 này, nhưng vẫn còn nhiều tranh cãi gay gắt về giờ làm việc tiêu chuẩn hàng tuần, số giờ làm thêm tối đa…
Quốc hội VN nhóm họp, Biển Đông nằm trong nghị trình
Có nhóm lợi ích đằng sau các dự án luật ở VN?
48 lượt đại biểu phát biểu cùng 6 lượt tranh luận quanh Bộ luật Lao động (sửa đổi) trong ngày làm việc 23/10, theo Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng đăng trên Trang thông tin Quốc hội Việt Nam.
Nhiều ý‎ kiến và tranh luận gay gắt về các đề xuất giảm giờ làm việc tiêu chuẩn hàng tuần, giới hạn số giờ làm thêm tối đa, tính lương làm thêm theo lũy tiến được đưa ra.
Tranh luận sôi nổi xoay quanh đề nghị mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ trong các trường hợp đặc biệt thêm 100 giờ/năm so với hiện hành (từ tối đa 300 giờ/năm lên 400 giờ) của Chính phủ; cũng như đề nghị quy định người lao động làm việc theo chế độ 44 giờ/tuần của một số đại biểu Quốc hội và nhiều đoàn đại biểu Quốc hội.
Ông Nguyễn Thiện Nhân, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, được báo chí Việt Nam thông tin rằng, đã phải viện dẫn cuốn sách “Hạnh phúc của người Việt Nam” để dẫn chứng về những khát khao của người dân.
Ông nói rằng, “nếu chúng ta làm việc mỗi ngày 9-10 giờ quanh năm thì không thể có gia đình hạnh phúc. Trên thế giới từ bỏ điều nay 133 năm nay rồi,” theo tờ Tuổi trẻ.
Ông Nhân cũng nhận định, muốn tăng năng suất lao động thì nguồn gốc phải đổi mới công nghệ và giảm giờ làm.
Quan điểm của ông Nhân cũng được các đại biểu khác chia sẻ, rằng cần có lộ trình giảm dần giờ làm phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Một đại biểu quốc hội khác, cũng của đơn vị thành phố Hồ Chí Minh là bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, thì được báo chí đưa tin là ‘rơi nước mắt’ khi nói về lương và giờ làm thêm của công nhân.
Bà Tâm cho rằng, Quốc hội phải có chính sách làm sao để công nhân “có thu nhập đủ sống và có thời gian chăm sóc bản thân, gia đình.”
Bà nói, phải nhìn vào dáng vẻ của người công nhân, tâm thế của họ khi đến làm việc và cuộc sống thực tế như thế nào.
“Rất nhiều công nhân phải gửi con về quê. Có người mẹ, người cha nào muốn xa con hay không? Nhiều người hai năm chưa được về thăm con. Ông bà già rồi vẫn phải giữ cháu để con đi làm việc, bà Tâm nói,” theo tờ VnExpress.
Bởi vậy, bà cho rằng, “đại biểu phát biểu có nghĩ đến quyền con người trong Hiến pháp hay không? Quan hệ giữa giới chủ với người lao động không chỉ là trách nhiệm, mà còn là tình người nữa.”
Câu nói trên của bà Tâm là để tranh luận lại với phát biểu trước đó của ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
Ông Lộc đề xuất giữ nguyên quy định hiện nay về giờ làm việc bình thường, nhưng lại tăng giờ làm thêm tối đa lên 400 giờ/năm.
Ông nhấn mạnh, “tăng giờ làm thêm là yêu cầu của cuộc sống, phù hợp lợi ích của cả người lao động và người sử dụng lao động.”
Kết thúc ngày thảo luận, bà Tòng Thị Phóng cho biết, với các nội dung còn nhiều ý kiến khác nhau như về làm thêm giờ, việc tăng tuổi nghỉ hưu quy định như thế nào, về tăng thêm ngày nghỉ có hưởng lương sẽ được lấy phiếu xin ý kiến của đại biểu trước khi biểu quyết thông qua.
Theo chương trình dự kiến của kỳ họp, Bộ luật Laođộng (sửa đổi) sẽ thông qua vào sáng ngày 20/11.
Không công bằng
Thực ra, ngay từ khi còn là dự thảo, những sửa đổi đã làm dấy lên nhiều tranh cãi.
Hiện tại, Việt Nam vẫn duy trì mức thời gian làm việc tiêu chuẩn là 48 giờ/tuần.
Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa ‘dân công chức,’ ‘văn phòng’ và người lao động.
Trong khi thời gian làm việc tiêu chuẩn của khối nhà nước là 40 giờ/tuần; doanh nghiệp khối dịch vụ linh động áp dụng mức 44 giờ/tuần; thì hầu hết các doanh nghiệp sản xuất, chế biến… vẫn áp dụng mức 48 giờ/tuần.
Nghĩa là, người lao động chân tay chỉ có một ngày Chủ nhật để nghỉ ngơi và phục hồi sức lao động.
Điều này bất công và tạo ra bất bình đẳng trong xã hội.
Doanh nghiệp phản đối tăng chi phí nhân công
Khi Dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) có đề xuất giảm giờ làm tiêu chuẩn từ 48 giờ/tuần xuống còn 44 giờ/tuần, đưa ra lấy ý kiến, đề xuất này đặc biệt vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, chế biến.
Ngay các chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, điều này sẽ khiến chi phí nhân công của các doanh nghiệp tăng, và khiến Việt Nam giảm năng lực cạnh tranh so với các nước Đông Nam Á khác.
Trong một cuộc hội thảo về dự luật này, tổ chức hồi tháng 9 năm nay, Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại TP Hồ Chí Minh, cho rằng, “Với kinh tế thị trường, nguyên tắc là chỉ can thiệp khi thị trường thất bại. Tuy nhiên, dự thảo lại sợ người lao động làm kiệt sức, sợ giới chủ bắt người lao động làm nhiều, dù hai bên đã có thỏa thuận.”
“Có rất nhiều tư duy như vậy trong bộ luật, thể hiện sự không tôn trọng quyền tự chủ, tự quyết của người lao động và chủ sử dụng lao động. Khi đã có khế ước lao động, Nhà nước phải làm thế nào để khế ước được thực thi chứ không cần nghĩ thay cho họ,” Tiến sĩ Anh nhấn mạnh thêm, theo tờ Thời báo Tài chính Việt Nam.
Theo Tiến sĩ Anh, Việt Nam vẫn là nền kinh tế có lợi thế về lao động, cụ thể là lao động giá rẻ, quy mô lớn. Tuy nhiên, quy định như bộ luật sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi thế này.
Các giới hạn về giờ làm thêm, về tiền lương luỹ tiến… đưa ra trong dự thảo rất không phù hợp với quy luật kinh tế. Các giới hạn này thậm chí có thể tạo ra thiểu dụng lao động, thất nghiệp, tạo ra khuyến khích ngược, ông Anh nói vậy.
Một điểm đáng lưu ‎nữa là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam còn khá thấp, thiếu ổn định, trong khi năng suất lao động không được cải thiện.
Sau hàng thập kỷ, năng suất lao động của các nước Đông Nam Á vốn có điều kiện tự nhiên và văn hóa tương đồng với Việt Nam, như Malaysia, Thái Lan, Indonesia hay Philippines vẫn gấp hai, gấp ba thậm chí gấp năm lần so với Việt Nam.
Ngoài ra, một bài viết trên tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn cũng cho rằng, đối thủ cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp Thái Lan hay Philippines vẫn đang duy trì thời gian làm việc tiêu chuẩn theo tuần ở mức 48 giờ/tuần và không có nhiều dấu hiệu là họ sẽ điều chỉnh mức này trong thời gian ngắn sắp tới.
Bởi vậy, lo lắng của các doanh nghiệp về giá nhân công tăng và khả năng suy giảm năng lực cạnh tranh của Việt Nam là có cơ sở.
Cần sớm hình thành hội, công đoàn của người lao động
Đại biểu QH và khuyến nghị quốc tế
Quan ngại quanh Dự thảo Luật về Hội
Vấn đề đặt ra là phải hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, quản lý‎ để tăng năng suất chứ không phải chỉ là ‘rơi nước mắt’ vì lo cho tình cảnh công nhân.
Bên cạnh đó, điều người lao động mong muốn vẫn là, nhà nước bảo đảm quyền lập hội, công đoàn cho họ, để họ đấu tranh cho quyền lợi của mình.
Dự thảo luật lần này có đưa ra việc người lao động có quyền thành lập, tham gia tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp. Nhưng sẽ còn cần quy định cụ thể từ Chính phủ.
Còn Luật về hội thì vẫn cứ là dự thảo.
Nói như Facebooker Dang Ngoc Quang: “Theo tôi hiểu, sự quan tâm tới người lao động của nhà nước thể hiện quan trọng là ở chỗ thúc đẩy nâng cao năng lực đàm phán của công nhân hiện còn rất yếu thế với giới chủ. Muốn người lao động có năng lực đàm phán, họ phải có quyền lập công đoàn độc lập,mà công đoàn phải được liên kết cả theo ngành và lãnh thổ.
“Quốc hội cần bảo đảm quyền lập hội, lập công đoàn cho người lao động, khi đó họ đàm phán và quyết định bán lao động của mình cho giới chủ thế nào.”
“Thật đáng tiếc là khi thảo luận dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) lần này, Quốc hội lại không thể hiện là tạo điều kiện thuận lợi nhất và ủng hộ người lao động thực hiện quyền tự do lập công hội, công đoàn của mình một cách độc lập,” Facebooker này viết.
Còn nhà báo Lưu trọng Văn thì viết trên Facebook cá nhân rằng, “Việc các ngài đại biểu Quốc hội cần làm để thực sự thể hiện mình là thương yêu người lao động và không phải khóc lóc không đúng chỗ như bà đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm và để khỏi bị mang tiếng là đạo đức giả đó là nhanh chóng ban hành Luật thành lập Hội theo Hiến pháp quy định…
“Người lao động có Luật thành lập Hội này sẽ tự thành lập các hội đoàn và công đoàn độc lập và liên kết các công đoàn độc lập khác để tạo sức mạnh buộc giới chủ ra những điều khoản hợp đồng lao động tốt nhất cho người lao động,” cây bút này viết.
https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-50164606

Vì sao nông sản VN nhận ‘quả đắng’ từ thị trường TQ?

“Khơi thông nông sản xuất khẩu từ Việt Nam” là một trong những đề nghị của Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ với lãnh đạo Tỉnh uỷ tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) hôm 23/10 trong lần gặp gỡ tại Văn phòng Chính phủ.
VN đã sẵn sàng nâng tầm đối tác chiến lược với Mỹ?
Việt Nam mua hàng Mỹ sau khi ‘bị Trump dọa’?
Xuất nông sản VN sang EU và cơ hội khép dần lại
Hụt nhân lực khiến VN khó tận dụng cơ hội từ cuộc thương chiến
Đáp lại, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam, ông Hùng Ba, nói rằng lời đề nghị này là ‘bất ngờ đối với phía Trung Quốc’, theo baochinhphu.vn.
Nhưng hẳn phải có lý do để chính phủ Việt Nam phải trực tiếp đưa ra lời đề nghị này?
Nông sản Việt Nam nhận ‘quả đắng’
Sau khi giảm 5,5% trong năm 2018, mức xuất khẩu của nông sản Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2019 lại tiếp tục giảm 10,5%, theo VNEconomy.vn.
Bộ Công thương Việt Nam cho rằng thị trường trong nước đã có “năm nhận thức sai lầm” khiến hàng nông sản Việt Nam nhận “quả đắng”.
Trong số “năm nhận thức sai lầm”, có việc coi Trung Quốc là thị trường ‘dễ tính’, cộng với thói quen xuất qua đường tiểu ngạch là chủ yếu nên phía Việt Nam nhiều năm nay không quan tâm đến quy định, tiêu chuẩn, xuất xứ, chất lượng hàng; lại thêm thích gì thì nuôi trồng ào ại cái đó mà không xem nhu cầu thị trường ra sao.
Nay Trung Quốc ‘khó tính’ hơn, yêu cầu cao hơn, vận dụng những quy định cả cũ và mới thì hàng Việt không đáp ứng được.
‘Quả đắng’ Việt Nam nhận được là xuất khẩu nông sản sang Trung Quốc giảm từ năm 2018, và tiếp tục giảm năm 2019, thậm chí có mặt hàng ‘gần như mất hút’.
Ba mặt hàng bị ảnh hưởng nhất là gạo, sắn và rau quả, theo Bộ Công thương Việt Nam.
Riêng trong tháng 7/2019, sản lượng rau quả xuất sang Trung Quốc giảm 44% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng sắn xuất đi giảm hơn 17%.
Gạo sụt giảm mạnh cả về lượng (giảm 68%), kim ngạch (giảm 67%), và giá (giảm 5/4%). Trong bảy tháng đầu năm 2019, Việt Nam mới xuất được hơn 300.000 tấn gạo sang Trung Quốc, gần như mất thị trường này, theo Bộ Công Thương.
Trung Quốc đã rớt ra ngoài danh sách nước nhập khẩu gạo lớn thứ 7 của Việt Nam trong hai tháng đầu năm 2019.
Ngoài ra, thịt lợn Việt, tưởng tận dụng được cơ hội Trung Quốc thiếu thịt nghiêm trọng do dịch tả heo, cũng không lọt qua được cửa khẩu do Trung Quốc thắt chặt kiểm soát tại khu vực biên giới, xây cả đài quan sát các đường ngang ngõ tắt tại đây.
Trung Quốc ‘khó tính hơn’
Nguyên nhân chính được cho là do chiến tranh thương mại với Mỹ khiến hàng Trung Quốc bị tồn đọng nhiều, phải tiêu thụ trong nước. Do đó Trung Quốc phải siết nhập khẩu hàng của các nước khác, “nhất là láng giềng Việt Nam”, theo nhận định của ông Nguyễn Đình Tùng, Tổng giám đốc Công ty Vina T&T Group nói với tờ Pháp Luật TP Hồ Chí Minh (PLO) .
Trung Quốc đã cho phá giá đồng nhân dân tệ để hỗ trợ xuất khẩu. Nhưng hậu quả là họ phải chi nhiều hơn cho nhập khẩu. Chính vì thế mà Trung Quốc “quay sang ép giá gạo Việt Nam”, theo nhận định của Giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Trung An Phạm Thái Bình trên PLO.
Thị trường Trung Quốc đã trở nên ‘khó tính hơn’. Bên cạnh những quy định đã có từ lâu mà thương nhân Việt, quen xuất hàng qua đường tiểu ngạch, vốn bỏ qua, nay thêm những quy định mới ‘bất khả thi’ với hàng Việt.
Chẳng hạn, Trung Quốc thậm chí yêu cầu Việt Nam phải nuôi heo tập trung ở khu vực sát biên giới và để nước này kiểm soát dịch bệnh rồi mới được xuất qua cửa khẩu. Ông Trương Đình Hòe, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) nói quy định này ‘bất khả thi’.
Nhưng dù phải ăn ‘quả đắng’, giới phân tích cho rằng đây là cơ hội để doanh nhân liên kết với nông dân để khai thác các thị trường mà Việt Nam ký hiệp định thương mại tự do (FTA), tránh phụ thuộc vào Trung Quốc.
Bên cạnh đó, đây cũng là lúc Việt Nam nâng cao chất lượng hàng hóa để đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Đặc biệt phải chú trọng các khâu kiểm dịch, khử trùng.
Ngoài việc cần tuân thủ các quy định về nhãn mác, bao bì, Việt Nam cũng cần tìm hiểu kỹ thị trường cần gì thay vì nuôi trồng tràn lan không kế hoạch, rồi đến mùa là ‘ùn ùn mang lên biên giới’, dẫn đến các vụ giải cứu dưa hấu, dưa lê, xoài, táo… đã trở thành thông lệ.
https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-50162998

Vì sao dân “chửi”?

Diễm Thi, RFA
“Quan có thế nào thì dân mới thế chứ”
Tại buổi thảo luận về tình hình kinh tế xã hội chiều 22 tháng 10, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập báo Nhân Dân, ông Thuận Hữu nêu nhiều lo ngại về vấn đề văn hóa, trong đó có mạng xã hội và lên tiếng rằng “mạng xã hội chửi từ trên xuống dưới, không chừa một ai; chửi tràn lan cơ quan công quyền như hát hay”.
Phát biểu của ông Thuận Hữu lập tức bị cư dân mạng “chửi” tiếp và chế lại chính câu nói của ông Nguyễn Phú Trọng để chế giễu như “Mình phải có thế nào thì dân mới chửi chứ”…
Nhà báo Tôn Phi từ Sài Gòn đưa ra nhận xét về câu nói của ông Thuận Hữu:
“Nhà báo là một nghề mà thời cổ xưa người ta gọi là “nạp ngôn”. Dưới sông Dương Tử có một chức quan gọi là quan nạp ngôn đi ghi lại tất cả mọi lời nói của dân chúng và bản thân Vua cũng phải vi hành để ghi lại tất cả lời nói của dân chúng.
Người dân đang nói thật mà ông Thuận Hữu lại bảo như thế thì … phải như thế nào thì dân mới thế chứ, không phải tự nhiên họ chửi.”
Tuy nhiên Nhà báo Tôn Phi cũng nhìn nhận đôi khi người dân dùng từ ngữ mà ông gọi là “không văn minh cho lắm”, hay “những từ ngữ không có trong tự điển” dù nội dung câu chuyện thì đúng.
Không khó để nêu một vài phát ngôn của các công bộc khiến dân “chửi” được lan truyền trên mạng xã hội:
Bà Nguyễn Thị Quyết Tâm, Chủ tịch HĐND TP.HCM phát biểu: Con lãnh đạo làm lãnh đạo là hạnh phúc của dân tộc.
Bộ trưởng Mai Tiến Dũng, Chủ nhiệm văn phòng chính phủ tuyên bố: Nếu chúng ta sai, chúng ta nhận lỗi trước dân, nếu dân sai thì dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Giám đốc Sở Giao thông vận tải Bùi Xuân Cường nhận định về nạn kẹt xe: Kẹt xe kéo dài ở TP. HCM chỉ là ùn ứ vì xe vẫn có thể nhúc nhích được.
Ông Cao Đức Phát, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn “chạy tội”: Ngộ độc thực phẩm phải lăn ra chết thì mới xử lý được…
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Phải làm sao để “chưa đến Đà Nẵng chưa thể chết” hay “Làm sao mỗi người khách du lịch đến Lạng Sơn phải mua một con vịt quay mang về…”
Với những phát ngôn đại loại như vừa nêu thì thử hỏi làm sao người dân không dùng mạng xã hội để trút nỗi bực dọc hay như ông Thuận Hữu gọi là “chửi”.
Tư tưởng của ông này từ những năm chưa có internet, chưa có mạng xã hội mà lại cửa quyền, độc đoán. Nó đại diện cho bọn độc đoán và dốt nát bây giờ trong giới lãnh đạo. – Nhà báo Nguyễn Đình Ấm
Người ta cho rằng thay vì nói mạng xã hội chửi tràn lan cơ quan công quyền, tại sao ông chủ tịch Hội Nhà báo không có những ý kiến đóng góp cho chính phủ Việt Nam trong việc làm thế nào để giảm sai phạm trong quan chức, chỉnh đốn lại đội ngũ cán bộ, đảng viên tha hóa đang tại vị, và nhất là nên “uốn lưỡi bảy lần” trước khi nói.
Ông Đoàn Bảo Châu lên tiếng trên facebook có tên Chau Doan về phát ngôn của ông Thuận Hữu, RFA xin được chia sẻ:
“Ông là chủ tịch hội nhà báo mà thủ cựu, kém hiểu biết như vậy thì chẳng trách báo chí đang mất dần uy tín với người đọc.
Xu thế của xã hội văn minh là tự do ngôn luận, công dân nào cũng có quyền phản biện, quyền phản ánh sự thật, quyền được truy cập và chia sẻ thông tin. Thông tin, sự thật như là tia hồng ngoại diệt vi trùng vi khuẩn tham nhũng, dối trá, ngăn chặn hành động chụp mũ những tiếng nói phản biện là “thế lực thù địch” là “phản động”, ngăn chặn hành động chà đạp nhân quyền của người dân.”
Còn nhà báo tự do Nguyễn Đình Ấm thì coi ông Thuận Hữu, Chủ tịch Hội nhà báo VN là đại diện cho một tầng lớp gọi là “phong kiến quý tộc” hưởng rất nhiều ân huệ của đảng và Nhà nước nhưng lại rất xa rời dân và không biết tình hình xã hội như thế nào. Ông Nguyễn Đình Ấm nói thêm với RFA sáng 23 tháng 10:
“Tư tưởng của ông này từ những năm chưa có internet, chưa có mạng xã hội mà lại cửa quyền, độc đoán. Nó đại diện cho bọn độc đoán và dốt nát bây giờ trong giới lãnh đạo.
Ông này là Tổng biên tập Báo Nhân Dân, là báo được coi là “bảo hoàng” hạng nhất, tức nó phục vụ hoàn toàn cho đảng cộng sản chứ không có nhân dân gì cả.”
Vì sao quan chức ngày càng phát biểu ngớ ngẩn?
Không chỉ có những phát ngôn của các vị quan chức mà chúng tôi vừa nêu bên trên là bị nhân dân “chửi” mà ngay từ đầu năm học 2019-2020, vị Bộ trưởng giáo dục Phùng Xuân Nhạ lên tiếng với truyền thông trong nước rằng năm nay ngành giáo dục phải xác định việc “dạy người’, dạy đạo đức, lối sống, giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh ưu tiên hàng đầu”. Ông Nhạ nói câu này ý chỉ trước giờ ngành giáo dục không xác định việc “dạy người” vậy!
Chưa hết, tiếp sau đó, ông Bí thư Thành ủy TP.HCM Nguyễn Thiện Nhân lại phát biểu trước các học sinh với những lời lẽ “răn dạy” rằng, “Sau bằng đại học, cao đẳng, các em cần phải có bằng làm con hiếu thảo, làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ hạnh phúc”.
Tiến sĩ tâm lý Phạm Quỳnh Hương nhận xét một cách công bằng rằng ngày xưa không có mạng xã hội thì người dân không có cơ hội bày tỏ những ý kiến của họ trước những phát ngôn của quan chức lãnh đạo đất nước như bây giờ. Bà cũng thẳng thắn công nhận rằng, tất nhiên không phải những bình luận của cư dân mạng đều đúng 100%, cũng có cái đúng có cái sai và bà cho đó là bình thường. Tuy nhiên bà không đồng tình với chữ “chửi” mà ông Thuận Hữu dùng. Bà nói:
Điều quan trọng là bây giờ quan chức Nhà nước không biết đâu là tiêu chuẩn của chân lý thì họ phát ngôn theo kiểu triết học cầu âu – tức là trúng trúng trật trật – chứ không có tiêu chuẩn nào cho chân lý cả. – Nhà báo Tôn Phi
“Người ta có thể khen, có thể chê, có thể phê bình góp ý… đó là hiện thực xã hội. Dùng từ “chửi” thì nó nặng nề quá, nó chỉ là sự bày tỏ.”
Cũng cùng quan điểm với Tiến sĩ Phạm Quỳnh Hương, Nhà báo Tôn Phi cho rằng đa số người dân “chửi” đúng nhưng cũng có khi sai. Ông nêu ví dụ:
“Bản thân người dân cũng đánh đồng, chẳng hạn như trong ủy ban xã có khoảng 7 người họp nhau lấy đất của dân để bán nhưng dân chửi nguyên xi cả tốp nhân viên ủy ban 30 người là sai.”
Nhà báo Tôn Phi giải thích vì sao quan chức nói hay bị dân chửi:
“Những viên chức Nhà nước ngày nay không được học kinh điển dân tộc cho nên họ gặp vấn đề về ngôn ngữ, và điều quan trọng là bây giờ quan chức Nhà nước không biết đâu là tiêu chuẩn của chân lý thì họ phát ngôn theo kiểu triết học cầu âu – tức là trúng trúng trật trật – chứ không có tiêu chuẩn nào cho chân lý cả.”
Sau những phát biểu của quan chức các cấp được coi là hết sức ngớ ngẩn xảy ra ngày càng nhiều, Phó giáo sư Hoàng Dũng từ Sài Gòn lên tiếng với RFA rằng, không bàn về những phát ngôn của các quan chức nữa vì nó quá nhiều và quá ngớ ngẩn.
Vấn đề đáng nói là vì sao mà càng ngày càng nhiều câu phát biểu khiến dân chỉ biết phì cười như thế.
Ông cho rằng tất cả là do cơ chế, bởi trong xã hội Việt Nam hiện nay, người dân đâu có được tự do lựa chọn người có năng lực quản trị đất nước. Bầu cử chỉ là cho vui. Khi thiết chế dân chủ không được xác lập mà còn duy trì “đảng cử dân bầu” thì hiện tượng các quan chức phát biểu những câu thiếu suy nghĩ, phát biểu như cái máy sẽ còn tồn tại.
https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/why-do-people-swear-dt-10232019141234.html

Bùng nổ camera hay tham vọng mới “lộ diện”?

Hình thức tham nhũng mới?
Tỉnh ủy Vĩnh Long vào ngày 22/10 đã phải có cuộc họp khẩn với các sở, ngành liên quan đến dự án “Cải tạo, nâng cấp và lắp đặt bổ sung hệ thống camera giám sát an ninh trật tự và xử lý vi phạm giao thông đường bộ tỉnh Vĩnh Long” với tổng kinh phí hơn 199,1 tỉ đồng cho 114 camera khiến dư luận xôn xao.
Tôi lo ngại họ dùng từ mỹ miều như để đảm bảo an ninh xã hội để… sử dụng nó như một công cụ để giám sát người dân, hạn chế hoạt động của những người nói ý kiến trái chiều với họ như dân oan hay những nhà hoạt động, theo dõi, giám sát người ta. - Lã Việt Dũng
Sở dĩ sự vụ ở tỉnh Vĩnh Long gây xôn xao dư luận vì trước đó, tỉnh Sóc Trăng, đã phải điều trần về chi phí lắp đặt 16 camera gần 1 tỷ đồng tại tư gia 16 cán bộ trong Ban Thường vụ. Và, nguồn kinh phí này lại được lấy từ nguồn dự phòng ngân sách Đảng cho Văn phòng tỉnh Ủy.
Mặc dù ngay sau khi dự án được công bố khoảng 1 tuần thì các vị lãnh đạo tỉnh ủy Sóc Trăng đã trả lại số tiền mua camera lại ngân sách của tỉnh nhưng người dân trong cả nước vẫn còn hoang mang về dự án được cho là “đẻ” ra để “rút” tiền ngân sách là chính.
Sự vụ ở Sóc Trăng vừa ngưng thì Vĩnh Long lại công bố số tiền khủng đầu tư camera. Theo thông tin thì vị chi tiền mua một camera lên đến trên 1 tỷ đồng.
Liên tiếp 2 vụ việc ở Sóc Trăng và Vĩnh Long, dư luận lại bàn tán về đề án “Xây dựng hệ thống camera giám sát hình ảnh tập trung” mà Sở Thông tin và Truyền thông TPHCM vừa trình lãnh đạo thành phố trong tháng 8. Theo Sở, từ nay đến năm 2025, thành phố sẽ lắp đặt khoảng 10.000 camera giám sát trên toàn thành phố với kinh phí thực hiện khoảng hơn 1.600 tỉ đồng lấy từ ngân sách thành phố.
Nhận xét về việc tăng cường camera giám sát ngày càng nhiều ở các tỉnh thành, Luật sư Hà Huy Sơn bày tỏ:
“Theo tôi nghĩ lắp vào những nơi công cộng cũng tốt thôi, không ảnh hưởng gì nhiều, nhất là những nơi như bến xe, nhà ga, bến cảng hoặc những nơi sinh hoạt cộng đồng nên lắp để đảm bảo an ninh.”
Nhiều ý kiến trên các diễn đàn lại cho rằng sau khi hàng loạt dự án bị phanh phui sai phạm, hàng chục cán bộ lãnh đạo bị khởi tố do ‘tham nhũng’ khiến nhiều quan chức đang tại vị lo sợ, vì vậy, thay vì “vẽ” dự án khủng hàng nghìn tỷ đồng họ bắt đầu chuyển dịch sang dự án nhỏ hơn vài trăm tỷ đồng như lắp đặt camera tràn lan.
Từ Hà Nội, nhà hoạt động Lã Việt Dũng nhận định:
“Thực ra cái này không có gì mới, thường xuyên như vậy. Tất cả các dự án chi tiêu vào tiền ngân sách thì họ đều là công cụ để họ kiếm tiền thêm, có thể thấy như các tượng đài hay các công trình cổng chào, tất cả những dự án gì thì gần như đều đội giá lên rất nhiều. Đấy chắc chắn là công cụ để các quan chức trong các tỉnh kiếm (tiền). Còn vụ camera này họ còn kiếm mạnh hơn nữa bởi vì tôi thấy các dự án thông minh lắp các camera giám sát nó là chỉ đạo xuyên suốt từ trên xuống dưới họ có ý định làm từ lâu rồi. Chắc chắn đây là một miếng bánh rất béo bở đối với họ.”
Chúng tôi có trao đổi với một doanh nghiệp lắp camera an ninh tại Sài Gòn để tìm hiểu về giá cả lắp đặt camera quan sát giao thông và được anh cho biết:
“Tùy theo loại camera hay độ phân giải của camera, hoặc vị trí lắp đặt. Nếu loại speedup khoảng 40-50 triệu cũng có, loại bình thường khoảng 1, 2 triệu. Nhận diện khuôn mặt thì mắc hơn, cần tích hợp phần mềm tích hợp nhận diện khuôn mặt nữa, khoảng tầm 50-60 triệu nữa.”
Vì vậy, theo Luật sư Hà Huy Sơn, dù việc lắp camera giám sát là một điều tốt, nhưng nếu so với những nhu cầu xã hội khác, việc này vẫn chưa thật sự cần thiết:
“Với khoản chi lớn như thế các tỉnh nên cân nhắc trong các nhiệm vụ cần phải chi, chẳng hạn như tiền đấy giành chi để đầu tư nâng cấp bệnh viện, trường học hay các công trình phục vụ an sinh xã hội có khi nó sẽ có ích, có hiệu quả hơn việc lắp camera quá tốn kém.”
Vẫn theo Luật sư Sơn, chính quyền cũng cần phải xem xét tới việc quyết định lắp ở địa điểm nào, có thể thông qua Hội đồng Nhân dân hay cũng nên xin ý kiến xã hội, trưng cầu ý kiến dân chúng. Đa số quyết định thế nào thì chính quyền dựa vào đó thực hiện.
Giám sát người dân?
Báo trong nước dẫn lời ông Lê Quốc Cường – Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông TPHCM cho biết dự án lắp camera tại Sài Gòn được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn 1 từ năm 2019-2021 và giai đoạn 2 từ năm 2021-2025. Trong đó, các camera giám sát được kết nối dữ liệu về trung tâm hình ảnh giám sát camera tập trung của TPHCM, từ đó có thể giám sát, nhận diện biển số phương tiện giao thông, nhận diện khuôn mặt, theo dõi triều cường, tình trạng ngập úng…
Bên cạnh đó, hệ thống camera này còn có khả năng phân tích hình ảnh, nhận diện và tìm kiếm đối tượng theo yêu cầu. Vì vậy, nó sẽ hỗ trợ tốt cho việc chỉ đạo, điều hành và xử lí các tình huống như chống bạo động và các hành vi gây rối trật tự công cộng.
Theo nhà hoạt động Lã Việt Dũng, việc lắp camera này là mối nguy hại khá lớn đối với an ninh đất nước:
“Rất nhiều tỉnh thành của Việt Nam đang học tập, thậm chí bê nguyên xi công nghệ của Trung Quốc về để tăng cường giám sát người dân qua các công cụ nhận diện khuôn mặt mà Trung Quốc gọi tên rất mỹ miều là ‘thành phố thông minh’. Bản chất đó là một giải pháp lắp rất nhiều camera và dùng các phần mềm, các công cụ trí tuệ nhân tạo để nhận diện khuôn mặt nhằm giám sát người dân. Tôi thấy đấy là một điều tốn tiền của.”
Với khoản chi lớn như thế các tỉnh nên cân nhắc trong các nhiệm vụ cần phải chi, chẳng hạn như tiền đấy giành chi để đầu tư nâng cấp bệnh viện, trường học hay các công trình phục vụ an sinh xã hội có khi nó sẽ có ích, có hiệu quả hơn việc lắp camera quá tốn kém. - LS. Hà Huy Sơn
Ngoài ra, ông Dũng cũng bày tỏ việc lắp camera này còn gây ra mối lo ngại về việc xâm phạm đời tư, cá nhân của con người. Ông tiếp lời:
“Tôi lo ngại họ dùng từ mỹ miều như để đảm bảo an ninh xã hội để làm 2 việc. Một là họ sẽ sử dụng nó như một công cụ để giám sát người dân, hạn chế hoạt động của những người nói ý kiến trái chiều với họ như dân oan hay những nhà hoạt động, theo dõi, giám sát người ta. Cái lo ngại thứ hai lớn hơn là thông tin công nghệ sử dụng sẽ ăn cắp những thông tin về khuôn mặt đó sẽ được đẩy qua Trung Quốc, như vậy gần như người dân Việt Nam không còn quyền riêng tư gì nữa cả.”
Trước đó, một số chùa tại Việt Nam đã lên tiếng cho biết bị an ninh gắn camera theo dõi trước cổng mặc dù không được sự cho phép của nhà chùa.
Nhiều nhà bất đồng chính kiến cho rằng việc gắn camera quan sát thực chất được xem như một hình thức theo dõi và “răn đe” vì trên thực tế, các trường học, trung tâm, bệnh viện, sân bay, nhiều cơ quan, đường phố… cũng đã được gắn camera, nhưng bạo hành và các hình thức nhũng nhiễu người dân vẫn không giảm.
Theo báo Nikkei Asian Review, các nhà quan sát quốc tế cảnh báo tại Hội nghị Internet toàn cầu lần 6 diễn ra ở Chiết Giang, Trung Quốc rằng Bắc Kinh đang cố xuất khẩu mô hình kiểm duyệt internet, mạng xã hội của họ sang các nước tham gia sáng kiến “Vành đai, con đường”. Cũng tại hội nghị, Trung Quốc tuyên bố đến năm 2020, chính quyền sẽ hoàn thành lắp đặt 626 triệu camera theo dõi trên cả nước và gần như cứ 2 người dân thì có một camera…
https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/camera-era-booms-or-new-ambition-appears-10232019134015.html

Tùy viên chính trị Đại sứ quán Mỹ

thăm Linh mục Đặng Hữu Nam

Tùy viên chính trị Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Jeremy Spector, vào ngày 23 tháng 10 có cuộc viếng thăm linh mục Đặng Hữu Nam và thân nhân của một số tù nhân lương tâm tại Nghệ An.
Cuộc gặp diễn ra tại giáo xứ Mỹ Khánh do Linh mục Đặng Hữu Nam quản nhiệm. Trong sự kiện Formosa xả thải gây ô nhiễm môi trường biển năm 2016,  linh mục Đặng Hữu Nam đã ít nhất 2 lần tham gia đoàn giáo dân từ Nghệ An đến tòa án huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh nộp đơn để kiện công ty của Đài Loan ra tòa nhưng bị ngăn cản, thậm chí có giáo dân còn bị đánh đập.
Linh mục Đặng Hữu Nam cho RFA biết vào tối 24 tháng 10:
“Trong dịp này tùy viên đại sứ Hoa Kỳ đến thăm khu vực miền Trung gồm Hà Tĩnh, Quảng Bình và Nghệ An, thăm Giám mục hai tòa Vinh và Hà Tĩnh và thăm tôi tại Giáo xứ Mỹ Khánh và cũng có nhã ý muốn thăm các gia đình tù nhân trên địa bàn miền Trung. Tôi cũng mời các gia đình đó đến Giáo xứ Mỹ Khánh để gặp gỡ. Họ làm việc với tôi từ sáng tới chiều ngày 23/10.”
Tin cho biết trong cuộc làm việc linh mục Đặng Hữu Nam và người thân của những tù nhân lương tâm trình bày về những điều mà họ cho là vi phạm nhân quyền và tự do tôn giáo. Do đó sau khi kết thúc ngày làm việc, linh mục Đặng Hữu Nam trao cho ông Jeremy Spector một Kiến nghị thư gồm 10 điểm.
Một số điểm cụ thể gồm đưa Việt Nam trở lại danh sách Các nước Cần quan tâm Đặc biệt vì vi phạm tự do tôn giáo, nhân quyền, gọi tắt theo tiếng Anh là CPC. Yêu cầu trả tự do cho các tù nhân lương tâm, yêu cầu Việt Nam thay đổi luật đất đai trao cho dân và tôn giáo quyền sở hữu đất đai. Buộc Việt Nam phải thực hành cam kết nhân quyền đã ký kết. Chế tài quan chức Việt Nam vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo và đàn áp người dân.
Linh Mục Đặng Hữu Nam cho biết thêm:
“Trong cuộc nói chuyện tôi cũng nói với tùy viên chính trị đại sứ quán Mỹ rằng chúng tôi không thể trút gánh nặng của nước Việt lên vai của người khác và tôi cũng biết rằng chính người Việt Nam mới là người chủ động và quan trọng nhất, nhưng tất nhiên sự lên tiếng và cộng tác và áp lực của bên ngoài thế giới và những chính phủ dân chủ đếu có giá trị riêng, và đó là niềm hy vọng cho người dân Việt chúng tôi.”
Như trình bày của linh mục Đặng Hữu Nam, Tùy viên chính trị Đại sứ quán Hoa Kỳ, Jeremy Spector, trước khi đến làm việc tại giáo xứ Mỹ Khánh với linh mục Đặng Hữu Nam và các gia đình tù nhân lương tâm, đã có chuyến thăm đến hai tòa giám mục Hà Tĩnh và Xã Đoài.
Mục tiêu của chuyến thăm được cho biết nhằm tìm hiểu việc vi phạm nhân quyền, đặc biệt quyền tự do tôn giáo tại hai tỉnh Hà Tĩnh và Nghệ An.
https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/us-embassy-politics-attache-met-w-father-danghuunam-10242019084747.html

Tàu Hải quân Ấn Độ sắp đến thăm Đà Nẵng

Tàu Hải quân Ấn Độ, INS SAHYADRI sắp thăm cảng Tiên Sa, Đà Nẵng từ ngày 29/10 tới ngày 1/11 tới, trong khuôn khổ việc triển khai hoạt động liên tục của Hải quân Ấn Độ tới khu vực Đông Nam Á. Truyền thông trong nước loan tin này hôm 24/10.
Theo truyền thông trông nước, chuyến thăm sẽ bao gồm hoạt động trao đổi chuyên môn giữa hải quân hai nước, chào xã giao và tiếp xúc với các lãnh đạo đại diện chính phủ Việt Nam, tham quan cho tuyền viên Ấn Độ và giao lưu thể thao. Hai bên đồng thời cũng sẽ tổ chức luyện tập chung.
Ân Độ là một trong các đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam từ năm 2016.
Các đoàn quân sự cấp cao hai nước đã có những chuyến thăm hữu nghị trong các năm qua. Tham mưu trưởng của cả ba quân chủng Ấn Độ đã tới thăm Việt Nam. Tư lệnh Hải quân Việt Nam và quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam cũng đã tới thăm Ấn Độ vào năm 2018.
Việt Nam mới đây đã đặt mua 12 tàu tuần tra cao tốc từ Ấn Độ để bổ sung cho lực lượng Biên phòng của Việt Nam. Theo báo giới Ấn Độ, toàn bộ kinh phí dự án đóng tàu nằm trong khuôn khổ gói tín dụng chính phủ Ấn Độ dành cho Việt Nam.
Trước đó, vào năm 2016, nhân chuyến thăm Việt Nam, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã công bố khoản tín dụng 500 triệu đô la cho Việt Nam để tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước.
Ấn Độ cũng là nước có hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam ở Biển Đông. Trong thời gian tàu hải cảnh Trung Quốc vào quấy nhiễu các hoạt động khai thác dầu khí của liên doanh giữa Việt Nam, Nga và Ấn Độ vừa qua, Việt Nam liên tục báo cáo cho phía Ấn Độ về tình hình căng thẳng ở Bãi Tư Chính. Ấn Độ cũng khẳng định các hoạt động khai thác dầu khí của công ty ONGC vẫn diễn ra bình thường.
https://www.rfa.org/vietnamese/news/vietnamnews/indian-warship-visit-danang-10242019095823.html

Nếu còn trọng chữ tín thì hãy tuyên bố từ chức

Trân Văn
Print
Nếu ông Trần Tuấn Anh (Bộ trưởng Công Thương) là một người trọng chữ tín, công chúng sắp thấy ông tuyên bố từ chức! Còn không thì sao?..
***
Khoảng giữa năm 2016, dù sự kiện nước thải của nhà máy thép thuộc Tập đoàn Formosa hủy diệt vùng biển phía Bắc miền Trung vẫn còn rất nóng, chính phủ Việt Nam tiếp tục làm dân chúng bàng hoàng khi bổ sung dự án xây dựng nhà máy thép tại khu vực Cà Ná (Ninh Thuận) của Tập đoàn tôn Hoa Sen vào qui hoạch ngành thép.
Tuy Chủ tịch Tập đoàn Tôn Hoa Sen hứa với Thủ tướng Việt Nam sẽ “giao hết tài sản nếu để xảy ra sai phạm về môi trường” nhưng tháng 11 năm đó, nhiều đại biểu Quốc hội vẫn bày tỏ sự bất an về quy hoạch ngành thép. Họ nhấn mạnh, quy hoạch ấy vi phạm điều mà ông Phúc đã cam kết với dân chúng: Không đổi môi trường lấy dự án!..
Ông Trần Tuấn Anh đã bác bỏ tất cả các khuyến nghị vì: Việt Nam thiếu… thép. Phải phát triển các doanh nghiệp tầm vóc quốc gia. Quy hoạch ngành thép được soạn – lập một cách khoa học, cẩn trọng. Ngoài Tập đoàn tôn Hoa Sen, sắp tới sẽ có Tập đoàn Hòa Phát xây dựng một nhà máy thép ở Dung Quất (Quảng Ngãi)…
Bất lực trong việc khuyên can, một đại biểu Quốc hội tên là Lưu Bình Nhưỡng ráng vớt vát: Các đại biểu Quốc hội khuyến nghị vì không muốn có bất cứ hệ luỵ nào đối với nhân dân, với đất nước. Liệu ông Trần Tuấn Anh có dám cam kết, nếu có hệ luỵ nào xảy ra, ông sẽ nhận trách nhiệm và xin từ chức hay không (1)?
Vào thời điểm đó, ông Trần Tuấn Anh không trả lời yêu cầu của ông Lưu Bình Nhưỡng vì… hết giờ, song sau đó, qua báo chí, ông tuyên bố, ông không ngại từ chức (2)! Nếu hệ luỵ xảy ra ở một dự án và liên quan đến trách nhiệm của Bộ Công Thương, ông sẵn sàng chịu trách nhiệm, thậm chí vì là Bộ trưởng ông sẽ chịu trách nhiệm cao hơn.
Tuy ông Trần Tuấn Anh tỏ ra rất khẳng khái trong việc sẵn sành nhận trách nhiệm nhưng ông Phúc vẫn ra lệnh tạm dừng thực hiện dự án xây dựng nhà máy thép tại khu vực Cà Ná của Tập đoàn tôn Hoa Sen. Các chuyên gia kinh tế và môi trường đã chỉ ra nhiều yếu tố đáng ngại cho cả kinh tế lẫn môi trường mà chính phủ không dám bỏ qua (3)!..
***
Đầu tuần này, hôm 22 tháng 10 năm 2019, chính quyền tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức một buổi đối thoại giữa dân chúng xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn với đại diện Tập đoàn Hòa Phát, chủ đầu tư “siêu dự án thép”, tọa lạc trong Khu Kinh tế Dung Quất. Đại diện Hòa Phát đã chính thức nhận lỗi, hi vọng dân chúng hạ hỏa…
Phân tích, khuyến cáo của các chuyên gia kinh tế, môi trường, phản ứng của dân chúng, đại biểu Quốc hội về qui hoạch ngành thép chỉ cản được dự án xây dựng nhà máy thép ở Cà Ná. Đầu năm 2017, chính phủ Việt Nam vẫn gật đầu cho Hòa Phát xây dựng “Khu liên hợp sản xuất gang thép” ở Dung Quất, trị giá 60.000 tỉ, công suất 4 triệu tấn/năm (4).
Từ cuối năm 2017 đến nay, “Khu liên hợp sản xuất gang thép” của Tập đoàn Hòa Phát ở Dung Quất đã trở thành ác mộng của dân chúng địa phương. Hết vì “đá chạy, cát bay” do dùng mìn phá núi sát các khu dân cư, đường sá nát bấy vì xe vận tải ra vào liên tục, mùa khô thì bụi mịt mù, mùa mưa thì lầy lội…
Đó là chưa kể đến chuyện chưa bồi thường, dân chưa giao đất nhưng Tập đoàn Hòa Phát đã tổ chức đào xới, san ủi, kể cả san ủi mồ mả… Từ đầu tháng 8 đến nay, dân chúng xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn đã bao vây “Khu liên hợp sản xuất gang thép” của Tập đoàn Hòa Phát ở Dung Quất… bốn lần!
Chẳng riêng dân, ở buổi đối thoại vừa kể, ngay cả Bí thư huyện Bình Sơn cũng sẵng giọng, yêu cầu Hòa Phát đừng hứa suông và phải tự xét xem vì sao dân chúng chỉ chống Hòa Phát chứ không cản trở những doanh nghiệp khác cũng đầu tư vào Khu Kinh tế Dung Quất như Hòa Phát (5)?..
Dẫu đang trong giai đoạn xây dựng, chưa sản xuất được mẻ thép nào nhưng hai năm vừa qua, rõ ràng “siêu dự án thép” của Hòa Phát ở Khu Kinh tế Dung Quất đã gây ra nhiều chứ không phải một… hệ lụy. Cuộc đối thoại giữa đại diện Hòa Phát với dân chúng xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi giống như buổi… tổng kết các… hệ lụy!
***
Cứ như những gì ông Trần Tuấn Anh đã tuyên bố hồi cuối năm 2016. Nào là: Không riêng dự án thép của Tập đoàn tôn Hoa Sen ở Cà Ná, nhiệm vụ của một Bộ trưởng là phải bảo đảm không để xảy ra bất kỳ thiệt hại và hệ lụy nào! Nào là: Sẵn sàng chịu trách nhiệm cao hơn!… Có lẽ chỉ nay mai, nội các của ông Nguyễn Xuân Phúc sẽ khuyết một Bộ trưởng đang điều hành Bộ Công Thương?
Chưa hết, ngoài vai trò Bộ trưởng Công Thương, ông Trần Tuấn Anh còn là đại diện cho dân chúng Quảng Ngãi tại Quốc hội. Để dân xã Bình Thuận, huyện Bình Sơn bị Hòa Phát đẩy đến chỗ chưa đến ba tháng phải bao vây “Khu liên hợp Gang thép Hòa Phát – Dung Quất” bốn lần, dám ông Anh sẽ xin thôi làm đại diện của dân Quảng Ngãi ở Quốc hội?
Nếu ông Anh tự thấy không xứng đáng làm Bộ trưởng và từ nhiệm, rồi tự vấn và xấu hổ mà xin thôi làm người đại diện cho “ý chí, nguyện vọng” của dân Quảng Ngãi ở Quốc hội, sẽ chẳng ai ngăn được ông xin rút ra khỏi BCH TƯ đảng CSVN khóa 12! Quy hoạch nhân sự chủ chốt cho BCH TƯ đảng CSVN khóa 13 chắc chắn sẽ bị xáo trộn!
Còn ông Trần Tuấn Anh không từ chức thì sao? Chẳng sao cả! Cách nay ba năm, bên cạnh tuyên bố sẵn sàng từ chức, sẵn sàng nhận trách nhiệm cao hơn vì là Bộ trưởng, ông Trần Tuấn Anh có đính kèm điều này: Tôi là đảng viên của đảng, tôi thực hiện nhiệm vụ của mình cũng là theo sự phân công của đảng (6)!
Nói cách khác, tuy ông Trần Tuấn Anh sẵn sàng từ chức, không ngại nhận trách nhiệm khi các dự án nói chung và dự án thép nói riêng có… hệ lụy nhưng ông không hành động như ông đã tuyên bố, không phải vì ông không tôn trọng chữ tín mà là vì đảng không… phân công ông đứng ra nhận trách nhiệm hay từ chức!
Tương tự, những tuyên bố kiểu như: Không đánh đổi môi trường lấy dự án! Không đánh đổi chủ quyền lấy tình hữu nghị viển vông!… Không thế này… không thế kia… không bao giờ đúng nhưng không ai xấu hổ, không ai bận tâm và tiếp tục đưa ra vô số tuyên bố khác là vì đảng ta chỉ thạo lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối chứ chưa… thí điểm nhận sai!
Chú thích
(1) https://news.zing.vn/bo-truong-co-dam-tu-chuc-neu-thep-ca-na-gay-he-luy-post697945.html
(2) https://tuoitre.vn/bo-truong-cong-thuong-san-sang-chiu-trach-nhiem-neu-thep-ca-na-co-he-luy-1245043.htm
(3) https://tbck.vn/bo-truong-bo-cong-thuong-toi-khong-e-ngai-chuyen-tu-chuc-27125.html
(4) https://tuoitre.vn/chinh-phu-dong-y-cho-hoa-phat-lam-du-an-thep-dung-quat-1257448.htm
(5) https://tuoitre.vn/hoa-phat-dung-quat-xin-loi-dan-20191022202013672.htm
(6) https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/dau-tu/thep-ca-na-bo-truong-bo-cong-thuong-san-sang-chiu-trach-nhiem-truoc-dan-349496.html
https://www.voatiengviet.com/a/tran-tuan-anh-bo-truong-cong-thuong/5137590.html

Tin Biển Đông – 24/10/2019


Tin Biển Đông – 24/10/2019

Biển Đông: Tàu Hải Dương Địa Chất 8

rút khỏi vùng đặc quyền kinh tế VN

Nhà nghiên cứu Hoàng Việt phân tích lý do Trung Quốc rút tàu Hải Dương Địa chất 8
Reuters dẫn dữ liệu từ trang web chuyên theo dõi các hoạt động của tàu thuyền trên biển đưa tin cho hay, tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 8 của Trung Quốc đã rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam sau hơn ba tháng khảo sát ở đây.
Tin cho biết tàu này rời đi sáng 24/10 với sự hộ tống của ít nhất hai tàu Trung Quốc khác, theo dữ liệu từ Marine Traffic – một trang web theo dõi hoạt động của tàu thuyền trên biển.
Căng thẳng giữa Hà Nội và Bắc Kinh leo thang khi Trung Quốc cử tàu đến khảo sát ở vùng biển ngoài khơi Việt Nam này từ đầu tháng Bảy.
Trong tháng Tám, sau hơn một tháng hoạt động thăm dò địa chất thềm lục địa khu vực trầm tích Tư Chính, tàu này cập bến Đá Chữ Thập (Fierry Cross) và Đá Subi vài ngày để lấy nhiên liệu và thay thủy thủ đoàn, rồi lại quay trở lại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Đá Chữ Thập vốn là đối tượng tranh chấp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Philippines và Đài Loan. Trên thực tế, Bắc Kinh chiếm quyền kiểm soát nơi này kể từ 1988.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần cáo buộc tàu khảo sát này và các tàu hộ tống vi phạm chủ quyền của Việt Nam và yêu cầu các tàu Trung Quốc ngay lập tức rời khỏi khu vực trên.
Reuters cũng nói là họ đã gửi email yêu cầu Bộ này bình luận nhưng hiện chưa nhận được hồi đáp.
TS. Hà Hoàng Hợp bình luận khả năng VN thay đổi chính sách quốc phòng sau vụ bãi Tư Chính.
Trong khi đó, hồi tháng 8, một cuộc biểu tình của những người phản đối hành động trên của Trung Quốc dự tính tổ chức bên ngoài Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, nhưng đã bị nhà cầm quyền dẹp bỏ.
Trong cuộc trao đổi với BBC News Tiếng Việt hôm 24/10, thành viên Ban nghiên cứu Luật Biển và hải đảo thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam, cho rằng Trung Quốc đã đạt được đa mục tiêu sau ba tháng triển khai các hoạt động của tàu thăm dò địa chất này, cùng với đội tàu hộ tống, áp tải.
Nhà nghiên cứu đưa ra phân tích và cho rằng Trung Quốc rút tàu còn có lý do cân nhắc tam giác quan hệ an ninh Trung Quốc, Việt Nam, Mỹ, đặc biệt trong tình hình Mỹ có các điều chỉnh trên bàn cờ an ninh chiến lược quốc tế, mà trong nội bộ Việt Nam có sự nhận thức mới.
Việc kiện Trung Quốc ra tòa án hay cơ quan tài phán quốc tế là một biện pháp và vũ khí ‘cuối cùng’, ông Hoàng Việt nhấn mạnh với BBC ngay trước thềm Bàn tròn thứ Năm từ London mà sẽ đề cập diễn biến mới này tối hôm 24/10 theo giờ Việt Nam.
Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, thành viên Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS), cũng là nghiên cứu viên cao cấp Viện ISEAS-Yusof Ishak có trụ sở tại Singapore, cho biết, Trung Quốc không muốn bất kỳ công ty nào ngoài ASEAN khoan dầu ở Biển Đông.
PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao nói về Hội thảo về vùng biển bãi Tư Chính và luật pháp quốc tế
Ông Hợp cũng cho biết Trung Quốc chỉ rút tàu sau khi giàn khoan dầu Hakuryu 5 của Nhật Bản hoàn thành việc khoan tại khu vực lô 06.1, do công ty dầu khí Rosneft của Nga vận hành.
Cũng từ tháng Bảy, các tàu hải cảnh Trung Quốc cũng hoạt động quanh khu vực có giàn khoan nói trên, theo dữ liệu từ trang web Marine Traffic.
“Trung Quốc quyết tâm gây sức ép để Việt Nam nhằm chấm dứt hoạt động thăm dò và khai thác dầu chung với các đối tác nước ngoài trong khu vực,” ông Hợp được Reuters dẫn lời cho biết.
Năm ngoái, Việt Nam đã tạm dừng dự án khoan dầu đã cấp phép cho tập đoàn Repsol ở lô Cá Rồng Đỏ ngoài khơi bờ biển Đông Nam cũng vì áp lực từ Trung Quốc, theo các nguồn tin quốc tế.
Còn một công ty con của Rosneft gần đây cũng lo rằng, việc vận hành khoan dầu tại đây có thể khiến Trung Quốc nổi giận.
TS. Lê Hồng Hiệp từ Singapore bình luận thực chất việc TQ điều tàu trở lại Bãi Tư Chính.
Tuần trước, Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước Việt Nam, ông Nguyễn Phú Trọng nói trong một cuộc tiếp xúc cử tri tại Hà Nội rằng, Việt Nam sẽ “không bao giờ nhân nhượng trước những vấn đề thuộc về chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.”
Biển Đông cũng nằm trong nghị trình bàn thảo kỳ họp thứ 8 Quốc hội Việt Nam khóa XIV.
Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 11 của Ban chấp hành Trung ương Đảng CSVN khóa XII, ông Nguyễn Phú Trọng đưa ra yêu cầu về việc “phân tích, dự báo có căn cứ, cơ sở khoa học, tình hình thế giới và trong nước, nhất là tình hình Biển Đông; chỉ rõ các khả năng có thể xảy ra.”
Còn Bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa, trong bài phát biểu khai mạc Diễn đàn Hương Sơn lần 9 tại Bắc Kinh hôm 21/10 thì nói rằng, các đảo ở Biển Đông là “một phần lãnh thổ không thể tách rời của Trung Quốc. Chúng tôi thậm chí sẽ không cho phép lấy đi một tấc lãnh thổ mà tổ tiên của chúng tôi đã để lại,” ông này tuyên bố.
“Có vẻ như Trung Quốc sẽ cử một giàn khoan đến khu vực mà Hải Dương Địa Chất 8 đã thực hiện các cuộc khảo sát địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam,” ông Hợp nói, theo Reuters.
Ông Derek Grossman, chuyên gia cao cấp Trung tâm Chính sách Châu Á – Thái Bình Dương, RAND Corporation, hôm 20/10 cũng nói với BBC News Tiếng Việt rằng, trong tương lai gần, rất khó hình dung đến một kịch bản mà trong đó, Trung Quốc lại quyết định rút hoàn toàn khỏi Bãi Tư Chính.

Bắc Kinh sẽ đưa giàn khoan vào khu vực

Bãi Tư Chính sau khi rút tàu nghiên cứu?

Tin từ Việt Nam, ngày 24/10/2019: Một số chuyên gia quốc tế dự báo Trung Cộng có thể sẽ đưa giàn khoan dầu vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở khu vực Bãi Tứ Chính trong thời gian tới, sau khi rút tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 8 cùng ít nhất hai tàu hộ tống khỏi khu vực này vào ngày 24/10.
Dự báo trên được đưa ra bởi Tiến sĩ Hà Hoàng Hợp, nghiên cứu viên tại Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) và Viện ISEAS-Yusof Ishak có trụ sở tại Singapore. Ý kiến này trùng hợp với nhận định của ông Derek Grossman, chuyên gia cao cấp Trung tâm Chính sách Châu Á-Thái Bình Dương, RAND Corporation
Dẫn lời ông Hợp, BBC viết rằng Trung Cộng không muốn bất kỳ công ty nào ngoài ASEAN khoan dầu ở Biển Đông, và đưa giàn khoan của mình vào khu vực Bãi Tứ Chính, sau khi sử dụng tàu nghiên cứu địa chất cày nát khu vực này từ đầu tháng 7 tới nay.
Bắc Kinh sẽ không từ bỏ kế hoạch chiếm trọn Biển Đông với đường lưỡi bò bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trung Cộng càng trở nên hung hăng, khi Việt Nam phản ứng yếu ớt bằng những lời tuyên bố chiếu lệ của Bộ Ngoại giao trong khi ban lãnh đạo cao cấp người thì im lặng, kẻ thì không dám nhắc đến tên Trung Cộng như một kẻ đang xâm phạm chủ quyền của quốc gia.
Tuổi lễ khai mạc Diễn đàn Hương Sơn thứ 9 tại Bắc Kinh hôm 21/10, bộ trưởng quốc phòng Trung Cộng Nguỵ Phượng Hoà đã nói trước mặt nhiều khách mời ngoại quốc rằng các đảo ở Biển Đông và đảo Điếu Ngư là những phần lãnh thổ không thể thay đổi của Trung Cộng. Trong số khách mời đó có bộ trưởng quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch, vốn xuất thân là một sỹ quan tuyên giáo. Cũng giống như cấp trên của y, ông Lịch chỉ dám đề nghị các quốc gia tôn trọng luật pháp quốc tế và giải quyết tranh chấp bằng con đường hoà bình, mà không một lời khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông.
Quốc Tuấn

Giàn khoan Hakuryu-5 của Nhật

rời khỏi khu vực gần Bãi Tư Chính

Tin Vietnam.- Trang Facebook mang tên Dự án Đại sự ký Biển Đông loan tin, sáng ngày 23 tháng 10 năm 2019, giàn khoan Hakuryu-5 thuộc công ty khoan Nhật Bản đã rời khỏi lô 06.1 bể Nam Côn Sơn ngoài khơi thềm lục địa Việt Nam, gần khu vực bãi tư Chính- Vũng Mây.
Đây là giàn khoan do công ty Rosneft của Nga thuê để thực hiện hoạt động thăm dò dầu khí tại lô 06.1, nằm phía tây bắc bãi Tư Chính. Theo Dự án Đại sự ký Biển Đông, giàn khoan Hakuryu-5 đã bắt đầu thực hiện di chuyển vào ngày 22 tháng 10 để về Vũng Tàu.
Bình luận về sự kiện này, trên trang youtube của nhà báo tự do Phạm Trung Khoa- chủ trang thoibaode- cho rằng hành động rút giàn khoan khỏi khu vực trên trong lúc Trung Cộng đang tăng cường xâm lấn ở khu vực Bãi Tư Chính chính là việc nhượng bộ về mặt chủ quyền của nhà cầm quyền CSVN. Còn trang Dự án Đại sự ký Biển Đông cho biết, việc rút giàn khoan Hakuryu-5 về Vũng Tàu được thực hiện sau khi đã hoàn thành khoan được một giếng dầu mới.
Về phía Trung Cộng, thì tàu hải cảnh 31302 đã rời khỏi khu vực, và nhập vào đoàn hộ tống tàu Hải Dương Địa Chất 8, còn tàu hải cảnh 5403 thì có vẻ như đang đeo bám theo sự chuyển động của giàn khoan Hakuryu 5. Đến 6 giờ sáng ngày 24 tháng 10, trang Dự án Đại sự ký Biển Đông thông báo, dường như nhóm tàu Hải Dương Địa Chất 8 đang rút về khu vực đảo Hải Nam.
An Nhiên

Thư tịch cổ TQ khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa

là của Việt Nam: Người Trung Quốc cổ đại

thật thà, liêm chính hơn

Trong rất nhiều tài liệu, thư tịch cổ của Trung Quốc đều khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam và cương vực lãnh thổ, lãnh hải của Trung Quốc chỉ đến đảo Hải Nam. Điều này cho thấy, người Trung Quốc cổ đại thật thà, không gian xảo như một số kẻ nhận vơ cái gọi là “chủ quyền do tổ tiên để lại”ở Biển Đông.
Bản đồ Hoa Di đồ từ năm 1136 thể hiện rõ lãnh thổ phía Nam Trung Quốc chỉ tới đảo Hải Nam.
Quần đảo Hoàng Sa nằm ở vĩ độ 15045′ đến 17015′ Bắc, kinh độ 1110đến 1130 Đông, cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi khoảng 120 hải lý; là một quần đảo đá san hô, cồn, bãi cát gồm hơn 30 hòn đảo, nằm trên vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, diện tích chừng 15.000km2.
Quần đảo Trường Sa nằm ở vĩ độ 6050′ đến 120 vĩ Bắc, kinh độ 11103′ đến 11702′ Đông, gồm trên 100 đảo đá, cồn san hô, bãi cạn, bãi ngầm nằm rải rác trên vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 350 hải lý, từ Bắc xuống Nam 360 hải lý, có diện tích khoảng 180.000km2, diện tích phần nổi thường xuyên khoảng 10km2, cách tỉnh Khánh Hoà 248 hải lý.
Tài liệu, thư tịch cổ Trung Quốc khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam
Các thư tịch cổ của Trung Hoa chưa từng thừa nhận quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của nước này, đồng thời trực tiếp và gián tiếp khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này, cụ thể:
Các sách lịch sử và địa lý của Trung Quốc từ thời nhà Tần tới khi nước CHDCND Trung Hoa ra đời (1949) không đề cập đến hai quần đảo này. Theo đó, sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng tiến hành xâm lược Văn Lang – Âu Lạc năm 214 trước Công nguyên và thất bại. Tuy nhiên quân Tần chỉ gây chiến ở khu vực phía Bắc Sông Hồng do đó chúng không thể vượt Biển Đông để đến Hoàng Sa, Trường Sa.
Đến thời nhà Hán, sau khi xâm lược thành công nước Âu Lạc, bên cạnh quận Giao Chỉ và Cửu Chân được nhà Triệu lập năm 179, nhà Hán lập ra quận Nhật Nam (bắt đầu từ Hoành Sơn – Quảng Bình đến Quảng Nam, Bình Định ngày nay). Tuy năm giữ chủ quyền trên đất liền nhưng nhà Hán không có thế lực gì trên khu vực biển dưới 20 độ vĩ Bắc. Từ năm 40 sau Công nguyên, nhân dân Giao Chỉ dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa và giành độc lập vào năm 43 sau Công nguyên.
Nước Chiêm Thành (do nhân dân Nhật Nam khởi nghĩa và giành thắng lợi) là quốc gia phát triển hùng mạnh trên khu vực Biển Đông. Hoàng Sa và Trường Sa là địa bàn sinh sống của người Chăm, đồng thời cũng là chủ sở hữu của hai quần đảo này. Do đó, khi lãnh thổ của đất nước Chămpa sáp nhập vào nước Việt thì đồng nghĩa là người Việt đã thừa kế lại quyền chiếm hữu của người Chăm đối với Hoàng Sa và Trường Sa.
Đến thời nhà Đường, sách “Tư di lộ trình” của Giã Đam (nhà Đường, từ 785-805) ghi lại đường biển từ Quảng Châu đến Một Lai, tuy nhiên không đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đến thời nhà Minh, trong cuốn “Vũ bị chí” – Mao Nguyên Nghi, Biển Đông được gọi là Giao Chỉ Dương. Trên các bản đồ Trịnh Hòa hạ Tây Dương, Trịnh Hòa hàng hải đồ cũng không thấy ghi chép các danh xưng Hoàng Sa, Trường Sa trong các lộ trình và hải đạo của Trịnh Hòa sau 7 lần đi qua Biển Đông để khai phá Ấn Độ Dương.
Đến thời nhà Tống, cuốn “Lĩnh ngoại đại đáp” -Châu Khứ Phi xác nhận: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) tọa lạc lại Giao Chỉ Dương”; “Chư Phiên Đồ” thời Tống cũng xác định giới hạn lãnh thổ của Trung Quốc với các nước khác ở Giao Dương (tức Giao Chỉ Dương). Giao Chỉ Dương chính là khu vực Vịnh Bắc Bộ ngày nay, trong khi đó Hoàng Sa và Trường Sa còn cách xa hàng trăm dặm về phía Nam. Đến thế kỷ XII, sử gia Triệu Nhữ Quát đời Tống trong cuốn “Chư phiên chí” xác nhận nhiều sự kiện lịch sử quan trọng từ thời nhà Hán. Theo đó, năm 111 trước Công nguyên, Hán Vũ Đế sai quân vượt biển sang chiếm đất của địch quân (Nam Việt) và đặt ra hai quân Châu Nhai và Đạm Nhĩ (đảo Hải Nam). Sách này cũng cho biết vùng quần đảo Hoàng Sa (Vạn Lý Trường Sa) là “nơi nguy hiểm, tàu thuyền Trung Quốc không nên đến gần”. Nhan đề sách là “Chư phiên chí”, nghĩa là chép chuyện các phiên quốc, nước ngoài. Vạn Lý Trường Sa nằm ở phiên quốc, nghĩa là không thuộc về Trung Hoa mà thuộc về phiên quốc Nam Việt. Như vậy, biên giới trên Biển Đông của Trung Hoa vào đời nhà Hán chỉ tới đảo Hải Nam.
Đến đời nhà Thanh, trong cuốn “Hải ngoại ký sự” viết năm 1696, Thích Đại Sán – một nhà sư thời Khang Hy đến đất Thuận Hóa của chúa Nguyễn năm Ất Hợi (1695) mô tả vị trí Vạn Lý Trường Sa là “cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm. Thời Quốc vương trước, hàng năm sai thuyền đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền hư tấp vào bờ”. Một trang trong cuốn Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán thuật lại chuyến du hành tới Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt. Đây là sự ghi nhận chủ quyền của Đại Việt trong kiểm soát và khai thác vùng Biển Đông, nơi tọa lạc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bởi lẽ, Hải ngoại ký sự là do người Trung Quốc viết về những điều được biết đến ở nước ngoài, chứ không phải viết về Trung Quốc. Đến thế kỷ XVIII, trong cuốn “Hải quốc văn kiến lục” của Trần Luân Quýnh, vùng biển của Việt Nam tại Biển Đông dược ghi bằng các danh xưng Việt Hải và Việt Dương. Đến thế kỷ XIX,
trong bộ Hải quốc đồ ký, cuốn Hải lục của Vương Bỉnh Nam chép: “Vạn Lý Trường Sa (Hoàng Sa) là dải cát ngoài biển được dùng làm phên dậu che chắn mặt ngoài bờ cõi nước An Nam”. Như vậy, tư liệu này của Trung Quốc đã thừa nhận quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ trên biển của Việt Nam. Đáng chú ý, trong bộ sách địa lý “Đại Thanh nhất thống chí” do Quốc sử quán nhà Thanh biên soạn năm 1892, lời tựa của Hoàng đế Thanh Tuyên Tôn không có chỗ nào ghi Thiên Lý Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa (quần đảo Hoàng Sa).
Ngoài ra, các bản đồ hành chính cổ của Trung Quốc cũng không hề xuất hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cụ thể: Bức địa đồ “Cửu vực thú lệnh đồ” (đời Tống), các cuốn địa đồ như “Thiên hạ thống nhất chi đồ” (Đại Minh Nhất thống chí – 1461), “Quảng Dư đồ” (La Hồng Tiên – 1541)… được thực hiện theo chủ trương của chính quyền trung ương các đời đều khẳng định cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam. Trong “Dư địa đồ” đời Nguyên của Chu Tư Bản được vẽ thu nhỏ lại trong sách Quảng dư đồ của La Hồng Tiên thực hiện năm 1561, phần cực Nam lãnh thổ Trung Quốc là đảo Hải Nam. Bản đồ “Hoàng Thanh Nhất thống chí” của triều nhà Thanh ấn hành 1894 cho thấy đến cuối thế kỉ XIX, “lãnh thổ Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết”. Bản đồ “Đại Thanh Đế quốc” do triều đình nhà Thanh ban hành cũng không thấy vẽ các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (kể cả theo các cách gọi của Trung Quốc như: Tây Sa, Nam Sa, Vĩnh Lạc, Tuyên Đức…). Đáng chú ý, Bộ “Đại Thanh nhất thống toàn đồ” đang được lưu trữ tại Thư viện quốc gia Australia là tập bản đồ gồm 21 phần thể hiện đầy đủ nhất toàn cảnh và các địa phương của Trung Quốc thời cận đại. Trong đó, phần Quảng Đông toàn đồ và Thanh sử cảo không hề thể hiện trên bản đồ hay dòng chữ nào mô tả về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không những vậy, hai bức “Duyên hải thất tỉnh khẩu ngạn hiểm yếu đồ” (các nơi hiểm yếu ở 7 tỉnh ven biển) niên đại năm 1887 và “Thất tỉnh duyên hải toàn dương đồ” (toàn bộ vùng biển của 7 tỉnh duyên hải) xuất bản đời vua Quang Tự cho thấy, vùng biển Nam Trung Quốc không vượt quá 18 độ vĩ Bắc. Địa đồ quân sự “Quảng Đông thủy sư doanh quan binh trú phòng đồ” (các đồn biên phòng của thủy quân Quảng Đông) niên đại sau năm 1866 thể hiện chi tiết về núi sông, đảo dư… ghi rõ các nơi giáp với vùng biển Giao Chỉ.
Đến thời Trung Hoa dân quốc vào năm 1919 có hàng loạt bản đồ do Trung Quốc vẽ vừa được triển lãm rộng rãi, không hề có hai quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) đã gây ấn tượng mạnh cho người xem cả trong và ngoài nước. Càng bất ngờ hơn khi trênn bộ Atlas được in trong trong sách Trung hoa Dân quốc Bưu chính dư đồ, xuất bản năm 1933 cũng hoàn toàn không có hai quần đảo này. Như vậy là căn cứ trên những bản đồ chính thức này thì chí ít đến tận những năm 30 của thế kỷ XX, địa giới cực Nam của Trung Quốc khi ấy chỉ là đảo Hải Nam.
Như vậy, qua các tài liệu lịch sử cổ, thư tịch cổ của Trung Quốc, bao gồm cả các sách địa lý, lịch sử và địa đồ hành chính cổ đã trực tiếp và gián tiếp cho thấy hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) đã được người Việt Nam phát hiện, sử dụng trong nhiều thế kỷ một cách hòa bình và liên tục, không có sự phản đối của bất kỳ quốc gia nào kể cả Trung Quốc.
Những tư liệu phương Tây về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
Từ thế kỷ XVI đến nay, đã có rất nhiều tư liệu lịch sử (sách, bản đồ…) của phương Tây công nhận chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cụ thể:
Trước hết là sự kiện chiếc tầu Grootebroek của Hà Lan trên đường đi từ Battavia (Indonexia) tới Turon (Đà Nẵng) bị đắm ở khu vực Paracels (Hoàng Sa) vào năm 1634. Những thuỷ thủ sống sót đã đưa được 4 thùng bạc lên một đảo lớn ở Paracel, sau đó cử 1 nhóm 12 người đi thuyền nhỏ vào Phú Xuân gặp chúa Nguyễn Phúc Nguyên xin trợ giúp. Chúa Nguyễn đã cho phép họ thuê tầu trở lại đảo đón 50 thuỷ thủ và đổi lấy 4 thùng bạc.
Đến năm 1701 một người Pháp là Jean Yves Clayes trong nhật ký của mình đã mô tả rất cụ thể các bãi đá ngầm ghi rõ: “Paracel là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam”. Jean Baptiste Chaigneau một người rất am hiểu tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XVII – đầu XIX đã có một bản tường trình cho Bộ Ngoại giao Pháp về triều Nguyễn vào tháng 5 năm 1820, trong đó có đoạn viết: “Vua ngày nay (tức vua Gia Long) đã lên ngôi hoàng đế gồm Đàng Trong cũ (Cochinchina ), xứ Đàng Ngoài cũ (Tonkin), một phần vương quốc Campuchia, một số hòn đảo có người ở không xa bờ và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, ghềnh và đá hoang vắng”.
Năm 1837, giám mục Jean Louis Taberd có một bài viết về Việt Nam, trong đó có đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa như sau:“Paracel hay Paracels là một mê cung đầy những đảo nhỏ, đá và bãi cát trải trên một khu vực đến 11 độ vĩ Bắc, 107 độ kinh Đông … Người Cochinchina gọi quần đảo này là Cồn Vàng. Tuy quần đảo này không có gì ngoài tảng đá và những cồn lớn, nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn thuận lợi, Vua Gia Long vẫn nghĩ rằng ông sẽ tăng thêm lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm
1816, ông đã tới long trọng cắm cờ và chính thức chiếm hữu mà hình như không một ai tranh giành với ông”. Ở đây J. L. Taberd nhắc đến sự kiện vua Gia Long giao cho quân đội ra làm cột mốc, cắm cờ chứ ngay từ khi mới lên ngôi (1802). Một năm sau, giám mục Jean Louis Taberd công bố tấm bản đồ, trên đó chú thích rõ quần đảo ở vị trí Hoàng Sa là “Paracel seu Cát Vàng ” (Paracel hay Cát Vàng). Cát Vàng là tên thuần Việt mà trên các văn bản chính thức gọi là Hoàng Sa. Đây là chứng lý xác đáng cho việc người Việt đã đặt tên cho quần đảo mà người phương Tây gọi là Paracel.
Vào năm 1849, Tiến sỹ Gutzlaff, hội viên của Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn, biên soạn một cuốn sách về Địa lý vùng đất phía nam của Việt Nam, có đoạn nói về Hoàng Sa như sau:“…Quần đảo Paracel (Kat Vang), ở ngoài khơi bờ bể An Nam, lan giữa 15 đến 17 độ vĩ Bắc và 111 đến 113 độ kinh Đông… Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần, nhưng rõ ràng nhận thấy rằng các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài đảo bây giờ đã có người ở thường xuyên, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ mạnh trào qua…Chính phủ An Nam thấy những mối lợi có thể mang lại nếu đặt ra một ngạch thuế bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải nộp, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc…”.
Giữa thế kỷ XIX, nhà địa lý học Italia nổi tiếng Adriano Balbi phát hành cuốn Địa lý đại cương, trong đó mô tả về địa lý Vương quốc An Nam có ghi: “Thuộc Vương quốc này có quần đảo Paracels (Hoàng Sa), nhóm đảo Pirati (đảo Hải tặc) và nhóm đảo Poulo Condor (Côn Đảo)” . Trong khi đó, đoạn mô tả về địa lý Trung Hoa, mặc dù rất dài, tác giả không đề cập gì đến Hoàng Sa và Trường Sa.
Luật pháp quốc tế đương đại thừa nhận chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam gồm nhiều đảo đá san hô rất nhỏ ở giữa Biển Đông. Hiện hai quần đảo đang là tâm điểm tranh chấp phức tạp giữa một số nước ven Biển Đông. Về việc giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ, pháp luật quốc tế đã hình thành nguyên tắc xác lập chủ quyền là nguyên tắc chiếm hữu thật sự và thực hiện quyền lực Nhà nước một cách thật sự, liên tục và hòa bình. Nguyên tắc này đã được các nước và các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên thế giới. Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý đều cho thấy rằng các Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàng trăm năm qua. Nói chính xác là các Nhà nước Việt Nam trong lịch sử và cho tới nay đã thực thi chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào. Từ đó Việt Nam đã thực hiện việc xác lập và thực thi chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục và hòa bình.
Dựa trên Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 có thể thấy: Về mặt địa lý, đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý và đảo Hoàng Sa (Pattle) chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý. Vì vậy, quần đảo Hoàng Sa nằm trong thềm lục địa của Việt Nam được quy định bởi Công ước về Luật Biển năm 1982. Về mặt địa chất, các nghiên cứu khoa học đều cho thấy quần đảo Hoàng Sa là một thành phần của Việt Nam. Về địa hình, đáy biển vùng quần đảo Hoàng Sa là một cao nguyên chìm dưới đáy biển nối tiếp liên tục lục địa Việt Nam. Tại quần đảo Trường Sa cũng vậy, về mặt địa chất và địa hình đáy biển các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Hơn nữa, bãi Tư Chính và đảo Trường Sa (Spratly) chỉ cách đất liền Việt Nam từ 150 đến 200 hải lý, nằm trong thềm lục địa của Việt Nam.
Từ góc độ luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi bất hợp pháp và không thể là cơ sở cho đòi hỏi chủ quyền. Vì vậy, chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vẫn được duy trì và không bị thay thế bởi sự chiếm đóng bằng vũ lực của Trung Quốc. Bị vong lục ngày 12 tháng 5 năm 1988 của Trung Quốc – một văn bản chính thức của Bộ Ngoại giao Trung Quốc – cũng khẳng định rõ một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế là “xâm lược không thể sinh ra chủ quyền” đối với một vùng lãnh thổ. Không có quốc gia nào trên thế giới công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông năm 2019:

Diễn biến, triển vọng và thách thức

Trong năm 2019, Trung Quốc và các nước ASEAN đã tích cực thúc đẩy đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) có tính ràng buộc và hữu hiệu. Dưới sự nỗ lực của các bên liên quan, COC bước đầu đã đạt được một số thành công nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức để có một COC mang tính ràng buộc pháp lý trong thời gian tới.
Diễn biến về COC trong năm 2019
Ngay từ đầu năm 2019, Bộ trưởng Ngoại giao 10 nước ASEAN và Tổng Thư ký ASEAN đã tham dự Hội nghị hẹp Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (17-18/1) tại Chiang Mai, Thái Lan. Tại Hội nghị, các Bộ trưởng nhất trí thúc đẩy thương lượng COC hiệu lực, hiệu quả; trong đó có hoàn tất lần rà soát thứ nhất dự thảo văn bản COC trong năm 2019. Theo đó, các Bộ trưởng nhất trí ASEAN cần tiếp tục trao đổi về tình hình Biển Đông, ghi nhận quan ngại về các hoạt động bồi đắp, tôn tạo và các hoạt động làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, gây phương hại tới hoà bình và an ninh khu vực. Trong bối cảnh này, các Bộ trưởng tái khẳng định lập trường nguyên tắc của ASEAN, nhất trí thúc đẩy thương lượng COC hiệu lực, hiệu quả; trong đó có hoàn tất lần rà soát thứ nhất dự thảo văn bản COC trong năm 2019. Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh dù đã có một số tiến triển, song tình hình thực địa vẫn diễn biến phức tạp, hoạt động quân sự hoá tiếp tục gia tăng. Do đó, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đề nghị ASEAN duy trì đoàn kết, tiếng nói chung, nỗ lực đóng góp cho hoà bình, ổn định và an ninh khu vực trên cơ sở những nguyên tắc đã nhất trí, trong đó có tự kiềm chế và không quân sự hoá, thực hiện đầy đủ, hiệu quả DOC và phấn đấu đạt Bộ Quy tắc COC hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển 1982. Cùng quan điểm trên, Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan Don Pramudwinai cho biết: “Các Bộ trưởng mong rằng sẽ có nhiều phiên thảo luận được tổ chức để đạt được lần rà soát đầu tiên của dự thảo văn bản đàm phán COC. Sau khi có lần rà soát này thì hy vọng sẽ đạt được sự thống nhất giữa các bên liên quan và rốt cuộc dẫn đến việc hoàn tất đàm phán COC”.
Trong khi đó, tại Hội nghị các Quan chức cao cấp ASEAN (ASEAN SOM, 6-8/3) được tổ chức tại thành phố Chiang Rai (Thái Lan), Hội nghị ghi nhận những tiến triển trong tiến trình thương lượng COC, đã tạo đà thuận lợi để hai bên có thể hoàn tất vòng thương lượng thứ nhất văn bản COC trước Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN – Trung Quốc vào tháng 8/2019.
Từ 17-18/5/2019, ASEAN và Trung Quốc tổ chức Hội nghị trao đổi về việc thực hiện DOC và đàm phán COC. Trước đó, Nhóm công tác chung ASEAN-Trung Quốc về thực hiện DOC cũng đã họp từ 16-17/5/2019. Tại các cuộc họp này, các bên đã trao đổi về tình hình Biển Đông, kiểm điểm thực hiện DOC và tiếp tục đàm phán về COC. Các nước cho rằng tình hình Biển Đông phức tạp là hệ lụy của những diễn biến vừa qua trên thực địa, làm gia tăng căng thẳng, gây xói mòn lòng tin, tạo nguy cơ cho hòa bình, ổn định trên Biển Đông. Trước tình hình đó, các nước tái khẳng định tầm quan trọng của bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; đồng thời cũng cam kết thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, nhất là tự kiềm chế, đi đôi với hợp tác xây dựng lòng tin. Hội nghị nhất trí với đề xuất của Việt Nam tổ chức hội thảo trong khuôn khổ DOC về đối xử công bằng, nhân đạo với ngư dân. Hội nghị ghi nhận công việc của Nhóm Công tác chung, hoan nghênh tiến triển trong đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc về COC, cho rằng tiến trình này đang được triển khai đúng lộ trình, hướng tới hoàn tất vòng rà soát đầu tiên trước thềm Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao.
Tuyên bố chung của Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 34 (22-23/6) cho biết, ASEAN và Trung Quốc đã hoàn thành nhanh chóng các cuộc đàm phán bản dự thảo COC để “giảm các căng thẳng và nguy cơ các tai nạn, hiểu lầm và tính toán sai lệch. Bản Tuyên bố cho biết “Chúng tôi hoan nghênh nồng nhiệt những sự hợp tác tiếp tục được cải thiện giữa ASEAN và Trung Quốc và được khích lệ từ những cuộc đàm phán lâu dài đã dẫn đến những kết luận sớm”. Đáng chú ý, Phát biểu tại hội nghị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh chia sẻ đánh giá chung của các nước ASEAN về ý nghĩa và tầm quan trọng chiến lược của quan hệ ASEAN-Trung Quốc, khẳng định sẽ tích cực phối hợp cùng các nước ASEAN thúc đẩy quan hệ đối tác và hợp tác giữa hai bên đi vào chiều sâu và thực chất hơn, nhất là trên các lĩnh vực thuộc quan tâm và lợi ích chung như kinh tế-thương mại-đầu tư, thích ứng cách mạng công nghiệp 4.0, kết nối, phát triển bền vững, giao lưu nhân dân… Về tình hình Biển Đông, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh ghi nhận những tiến triển trong đàm phán COC, song cũng bày tỏ quan ngại sâu sắc về những diễn biến trên thực địa, trong đó có hoạt động của Tàu khảo sát Hải Dương 08 của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; khẳng định những hành
động trên của Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, không có lợi cho hòa bình và ổn định ở khu vực. Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh khẳng định lại lập trường nguyên tắc của ASEAN về tầm quan trọng của tăng cường lòng tin, không quân sự hóa, kiềm chế, không có hoạt động làm gia tăng căng thẳng và phức tạp tình hình; tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế trong đó có UNCLOS 1982, sớm hoàn tất COC hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế. Trong khi đó, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị cho rằng Bắc Kinh và các nước thành viên ASEAN đang tập trung vào việc “giải quyết những bất đồng một cách hợp lý” và cam kết sẽ cùng làm việc để duy trì hòa bình và an ninh ở khu vực. Ông Vương Nghị cho biết kim ngạch thương mại hai chiều giữa các thành viên ASEAN và Trung Quốc đã vượt mức 580 tỷ USD vào năm ngoái, trong khi đầu tư từ Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á đạt gần 10 tỷ USD, khiến cho lần đầu tiên khu vực này trở thành điểm đến thứ hai của dòng vốn đầu tư nước ngoài từ Trung Quốc. Ngoại trưởng Vương Nghị cũng đề cập đến việc tất cả các quốc gia ASEAN đều có dự án thuộc Sáng kiến Vành đai và Con đường. Ngoài ra, ông Vương Nghị còn cho biết trong năm vừa qua, ASEAN và Trung Quốc đã có “cách tiếp cận dựa trên quy tắc” ở Biển Đông và nhắm tới mục đích hoàn thiện Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC) trong vòng 3 năm tới.
Phó Thư ký thường trực Bộ Ngoại giao Thái Lan Arthayudh Srisamoot (2/8) cho biết bản dự thảo COC thứ hai sẽ được ASEAN và Trung Quốc thảo luận trong hai tháng tới. Theo ông Arthayudh Srisamoot, “chúng tôi muốn Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) trở thành một tài liệu tạo thêm niềm tin trong khu vực và tuân theo luật pháp quốc tế”.
Tại Cuộc họp lần thứ 30 Nhóm công tác chung ASEAN-Trung Quốc về Thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC, 13-14/10), Đoàn đại diện Philippines nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc họp lần này đối với quá trình thực hiện mục tiêu tiêu chung về việc đưa ra một kết luận SOM – DOC sớm nhất có thể, cũng như xây dựng niềm tin chung trong việc duy trì ổn định và hòa bình khu vực.Trong khi đó, đại diện phái đoàn phía Trung Quốc cho biết: “Chúng tôi sẽ nỗ lực làm việc với tất cả đồng nghiệp ở đây vì sự thành công của phiên họp lần này. Phiên họp lần này cực kỳ quan trọng, đặc biệt là đối với công tác chuẩn bị cho hội nghị thượng đỉnh sắp tới. Tôi tin rằng chúng ta có sẽ một kết luận SOM – DOC hiệu quả, mở ra một chương mới cho năm tới…”.
Tại Hội nghị Quan chức cao cấp ASEAN – Trung Quốc về thực hiện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) lần thứ 18 (15-16/10) tại Đà Lạt, các nước cũng đã trao đổi về những diễn biến trên Biển Đông, đặc biệt là những vụ việc đang diễn ra trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Các nước bày tỏ lo ngại tình hình căng thẳng hiện nay nếu kéo dài sẽ rất nguy hiểm, đe dọa hoà bình, an ninh và ổn định ở khu vực. Các nước ASEAN nhấn mạnh các bên cần kiềm chế, không quân sự hoá, không có các hành động làm phức tạp tình hình, gia tăng căng thẳng, không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực, giải quyết hoà bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và UNCLOS. Hội nghị cũng nhất trí cần tiếp tục bảo đảm thực hiện đầy đủ, hiệu quả DOC, trong đó cần ưu tiên triển khai các biện pháp xây dựng lòng tin, hợp tác xử lý những thách thức chung như bảo vệ môi trường biển, đối xử nhân đạo với ngư dân. Về đàm phán COC, các nước hoan nghênh việc hoàn tất vòng rà soát đầu tiên văn bản dự thảo, nhất trí cần duy trì đà tiến triển đã đạt được, khẳng định cần gia tăng nỗ lực để xây dựng một Bộ quy tắc thực sự hiệu quả, thực chất, có thể ngăn ngừa xảy ra những vụ việc phức tạp như hiện nay. Để làm được điều này, Hội nghị nhất trí cần chuẩn bị kỹ cho các vòng đàm phán tiếp theo nhằm đạt được những kết quả cụ thể, thực chất; theo đó các nước đã trao đổi về những cách làm mới để áp dụng cho vòng đàm phán tới.
Cộng đồng quốc tế ủng hộ tiến trình đàm phán COC
Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về Vụ An ninh Ấn Độ – Thái Bình Dương Randall Schriver (26/4) kêu gọi các nước ASEAN tiếp tục theo đuổi đàm phán COC ràng buộc pháp lý đối với hành động của các nước liên quan đến cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trên Biển Đông, đồng thời nhận định Trung Quốc có khả năng tìm cách lái cuộc đàm phán COC theo ý của Bắc Kinh. Theo ông Randall Schriver, “cách Trung Quốc hành xử giống như họ không tham gia vào việc tuân hành luật lệ quốc tế một cách nhất quán, cho nên chúng ta có sự nghi ngờ về những điều kiện họ muốn có ở trong COC”. Ông Schriver cho hay dù Mỹ nghi ngờ động cơ của Trung Quốc trong khi tham dự đàm phán, song Washington vẫn tin một COC có thể là cơ chế để cải thiện an toàn trong khu vực tranh chấp; đồng thời khẳng định Mỹ không tham gia vào việc soạn thảo COC. Trong khi đó, nhiều quan chức Mỹ bày tỏ quan ngại về tiến trình đàm phán COC, đồng thời kêu gọi các bên liên quan đàm phán công bằng, đảm bảo lợi ích của các bên liên quan ở Biển Đông.
Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh (15/1) cho rằng việc tiến hành soạn thảo COC là chậm trễ và nhiều điểm từ trong DOC không được các bên tham gia nghiêm túc coi trọng; thừa nhận Việt Nam sẽ là nước chịu ảnh hưởng lớn nhất nếu xảy ra xung đột trong khu vực.
Trong chuyến thăm Việt Nam (7-10/7), Ngoại trưởng Philippines Teodoro Lopez Locsin khẳng định Philippines nhất trí thực hiện nghiêm Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và nội dung đàm phán về Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) sắp tới.
Trong khi đó, Trung Quốc tiếp tục ngụy biện về COC. Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị (8/3) cho rằng trong những năm gần đây, cục diện tình hình Biển Đông đã có bước chuyển biến tích cực; con đường đúng đắn để giải quyết tranh chấp Biển Đông là thông qua đàm phán trực tiếp với các nước đương sự và Trung Quốc cùng ASEAN phối hợp bảo vệ hòa bình ổn định ở Biển Đông. Hiện tiến trình đàm phán COC đang được đẩy nhanh tốc độ, lộ trình đã rõ ràng. Việc Trung Quốc chủ động đề xuất sẽ đạt được COC vào năm 2021 cho thấy “thành ý” và “trách nhiệm” của Bắc Kinh. Nhằm thúc đẩy Trung Quốc và ASEAN tăng cường lòng tin chính trị, quản lý bất đồng, thúc đẩy hợp tác và phát huy tác dụng bảo vệ ổn định ở Biển Đông, COC sẽ là bản nâng cấp của DOC, nó sẽ phù hợp hơn với khu vực, có hiệu quả hơn trong quy định về hành vi của các bên liên quan và thúc đẩy bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông. Trung Quốc sẽ cùng ASEAN giữ vững quyết tâm, loại trừ can thiệp từ bên ngoài, xuất phát từ cơ sở nhất trì đàm phán để không ngừng đẩy nhanh tiến trình đàm phán hiệp thương. Tuy nhiên, Trung Quốc phản đối “nước cá biệt” lợi dụng vấn đề Biển Đông để can dự đàm phán COC, khẳng định hòa bình và ổn định ở Biển Đông phải do các nước trong khu vực quyết định. COC phải do các nước trong khu vực cùng thương thảo, tuân thủ và gánh vác trách nhiệm. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng (1/3) cho rằng, Trung Quốc và các nước ASEAN đang chứng kiến “sự tiến triển suôn sẻ” liên quan tham vấn về COC. Theo ông Lục Khảng, cho đến thời điểm này, đây là cuộc họp đầu tiên trong năm nay về thực thi cơ chế DOC, khẳng định Trung Quốc và các nước ASEAN đã có cuộc trao đổi ý kiến sâu rộng và thẳng thắn về các vấn đề như thực thi DOC cũng như thúc đẩy tham vấn về COC; đồng thời nhấn mạnh trong cuộc họp này, với đà đối thoại và hợp tác, Trung Quốc và các nước ASEAN đã tiếp tục thúc đẩy việc xem xét và đóng góp ý kiến về văn kiện COC một cách hiệu quả, luôn xây dựng sự đồng thuận; khẳng định quá trình đàm phán COC đang tiến triển suôn sẻ. Trong khi đó, Đại sứ Trung Quốc tại ASEAN Hoàng Khê Liên cũng cho biết, do vẫn chưa có COC, Trung Quốc và các nước ASEAN sẽ tiếp tục thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC nhằm đạt được COC trong thời gian sớm nhất; nhấn mạnh Trung Quốc cũng mong muốn rằng các nước ngoài khu vực có thể đóng vai trò xây dựng trong tiến trình này và đóng góp vào hòa bình và ổn định của khu vực. Ông Hoàng Khê Liên cho rằng việc thực hiện DOC trong khi đàm phán COC tạo ra nền tảng hiệu quả để duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông thông qua tăng cường đối thoại và hợp tác, “là minh chứng cho thấy Trung Quốc và ASEAN có sự sáng suốt và khả năng xây dựng các quy định và quản lý đúng đắn các tranh chấp vì hòa bình và ổn định ở Biển Đông”.
Xu hướng và triển vọng về COC
Tuy được Trung Quốc và ASEAN thúc đẩy đàm phán, song vẫn còn gặp nhiều khó khăn để đạt được COC trong thời gian sắp tới. Nguyên nhân chính là do:
Thứ nhất, Trung Quốc cũng đang âm thầm cản trở COC vì: (1) Trung Quốc tiếp tục tiến hành các hoạt động quân sự hóa trên Biển Đông, đồng thời tìm cách tăng cường khả năng quản lý, giám sát (phi pháp) đối với khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và ngăn chặn ngư dân Philippines tiếp cận bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham. Những hành động trên của Trung Quốc tiếp tục làm xói mòn lòng tin, làm gia tăng căng thẳng và có thể ảnh hưởng đến hòa bình, an ninh và sự ổn định trong khu vực. (2) Trung Quốc không muốn có một COC mang tính ràng buộc pháp lý, vì cho rằng nếu COC mang tính ràng buộc về pháp lý sẽ ngăn chặn âm mưu độc chiếm Biển Đông của Bắc Kinh. (3) Bắc Kinh muốn thông qua các cuộc đàm phán, tham vấn với ASEAN để nghiên cứu, nắm quan điểm của các nước ASEAN đối với Trung Quốc. Từ đó, Bắc Kinh sẽ đưa ra những đối sách cụ thể với từng nước, để lôi kéo hoặc ép buộc phải ủng hộ quan điểm của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Nói một cách khác, Trung Quốc vẫn muốn tìm cách chia rẽ ASEAN và chèn ép những nước “không nghe lời”.
Thứ hai, nội dung dự thảo COC có những tranh chấp phức tạp về mặt pháp lý trong việc xác lập các vùng biển và thềm lục địa xuất phát từ việc giải thích và áp dụng khác nhau các quy định của UNCLOS 1982; tranh chấp chủ quyền đối với các đảo, đá ở Biển Đông. Đặc biệt là một số thành viên khi tham gia với những động cơ chính trị khác nhau, tiêu biểu là Trung Quốc, một thành viên đã có những hoạt động vi phạm các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các quốc gia khác xung quanh Biển Đông, bất chấp luật pháp quốc tế và các cam kết chính trị đã đạt được. Trung Quốc đã và đang tìm cách trì
hoãn quá trình thương thảo để tranh thủ tạo được lợi thế trong đàm phán về COC. Chừng nào yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc chưa được hợp thức hóa trong việc xác lập phạm vi điều chỉnh COC thì chừng đó không thể có được COC. Điều đó đồng nghĩa với việc Trung Quốc phải thực hiện bằng được chiến lược độc chiếm Biển Đông, dùng Biển Đông để vươn lên tranh giành vị trí siêu cường số một thế giới đối trọng với Mỹ. Và như vậy có thể thấy rằng cái gọi là “đã đạt được bản thảo đầu tiên của COC” do Trung Quốc chủ động thông tin là cố ý thổi phồng, nhằm mục đích tuyên truyền, mê hoặc dư luận vì động cơ chính trị. Có chăng chỉ có thể là “đã đạt tiến triển tốt trong việc xây dựng “Khung COC với Trung Quốc” như phía Philppines thông báo.
Dư luận nổi bật về COC trong năm 2019
Tổng biên tập tờ Nikkei Asian Review Toru Takahashi nhận định rằng không như giai đoạn soạn thảo ban đầu vốn chỉ là việc đọc các văn bản, ASEAN và Trung Quốc sẽ đối diện nhiều khó khăn trong đàm phán nhằm xóa bỏ những cách biệt lớn về quan điểm. Bắc Kinh đang thể hiện “bộ mặt hợp tác” trong khi vẫn có các động thái gây căng thẳng trên thực địa. Một trong những hành vi mới nhất là nhóm tàu khảo sát Hải Dương Địa chất 8 của Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa Việt Nam. Bên cạnh Việt Nam, có nhiều thông tin cho thấy Malaysia và Philippines cũng bị các tàu khảo sát Trung Quốc xâm phạm EEZ. Theo Nikkei Asian Review, Trung Quốc muốn đàm phán song phương và điều này thể hiện ở việc văn bản giai đoạn đầu được xem như 11 đề xuất riêng biệt của từng nước, thay vì của ASEAN và Trung Quốc. Ngoài ra, Bắc Kinh muốn hoàn tất COC trong nhiệm kỳ của Tổng thống Duterte, vốn tỏ ra mềm mỏng hơn so với người tiền nhiệm Benigno Aquino III. Theo các nguồn tin ngoại giao, Trung Quốc có 3 yêu cầu cơ bản về COC, bao gồm việc không phụ thuộc vào UNCLOS, các cuộc tập trận chung với các nước bên ngoài khu vực phải có sự đồng ý trước của tất cả các bên ký kết thỏa thuận, và không thăm dò, khai thác tài nguyên với các nước bên ngoài. Tuy nhiên, ASEAN sẽ không thể chấp nhận các yêu cầu trên vì sẽ khiến phán quyết của Tòa trọng tài về vụ kiện Biển Đông vô hiệu, đồng thời có thể dẫn đến những hệ lụy khó lường khác.
Theo GS Robert Beckman, Giám đốc Chương trình luật và chinh sách đại dương thuộc Trung tâm luật quốc tế (Đại học Quốc gia Singapore), nội dung COC nên xoáy sâu vào việc không đe dọa và sử dụng vũ lực, hiện trạng trên các thực thể bị chiếm đóng, thực hiện kiềm chế, lập đường dây nóng và thủ tục giải quyết sự cố, khung biện pháp giảm thiểu nguy cơ đụng độ… Tuy nhiên, ông Beckman lưu ý các nước liên quan không nên có những kỳ vọng phi thực tế về nội dung COC và nhấn mạnh bộ quy tắc này sẽ không giải quyết được các tranh chấp ở Biển Đông. Thay vào đó, “COC có thể hỗ trợ giảm căng thẳng và thiết lập lòng tin nếu nó thiết lập được một khuôn khổ cho cơ chế hợp tác giữa các nước ven Biển Đông”.
Đáng chú ý, có nhiều ý kiến cho rằng bằng các hành động bắt nạt trên thực địa, Trung Quốc đang gây sức ép với Việt Nam và các nước ASEAN khác để bắt các nước thuận theo đề xuất của Trung Quốc. Trung Quốc cũng bằng cách này ép các nước trong khu vực từ bỏ các dự án đang hợp tác với các nước ngoài khu vực để khai thác dầu khí trong vùng biển của mình và tạo tiền lệ thuận lợi cho Trung Quốc trong đàm phán COC. Ngoài ra, Trung Quốc đang khuyến khích các doanh nghiệp của họ đầu tư tại Biển Đông, đặc biệt là tại các đảo nhân tạo trên khu vực quần đảo Trường Sa và trong phạm vi đường lưỡi bò. Rất có thể Bắc Kinh đang từng bước chuẩn bị thành lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông và hành động xâm phạm vùng biển và bắt nạt đối với các nước trong khu vực là
Chuyên gia James Bolton nhận định, trước khi COC hoàn thành, như đề xuất của Bắc Kinh với ASEAN, Trung Quốc dự định sẽ mở rộng phạm vi hoạt động và yêu sách tới càng nhiều rạn san hô, đảo hoặc khu vực trên Biển Đông càng tốt. Động thái này Trung Quốc từng áp dụng trong cuộc tranh chấp lãnh thổ với Ấn Độ ở Tawang hoặc Chumar. Bằng cách bao gồm việc chỉ thảo luận về “các vấn đề khu vực” với các nước liên quan trong COC, Trung Quốc đang cân nhắc mọi can thiệp và vai trò có thể có của bất kỳ quốc gia nào khác trong khu vực. Tuy nhiên, mọi hành động đều có phản ứng bình đẳng và các quốc gia ở Đông Nam Á cũng như những nước có quyền lợi hàng hải trong vùng biển này sẽ không “ngồi yên”. Do đó, như các nhà phân tích đã cảnh báo, ngay cả khi xung đột không xảy ra, các căng thẳng hiện tại ở Biển Đông hầu như không có lợi cho sự phát triển và tăng trưởng của các nước trong khu vực. Tổn thất cho những hành động này là rất lớn. Cách tốt nhất, chính là việc Trung Quốc phải thực lòng hơn nữa trong việc đối thoại và duy trì các quy tắc quốc tế và cùng đảm bảo an ninh cho vùng biển hàng hải khu vực. Đối với điều này, việc hoàn thiện COC là bắt buộc.
Cùng quan điểm trên, nhà quan sát quan hệ quốc tế kì cựu của Indonesia, ông Veeramalla Anjaiah cho rằng các quốc gia ASEAN cần đoàn kết để ngăn chặn các hành vi phi pháp của Trung Quốc trên biển Đông: “Mấu chốt của vấn đề là các nước ASEAN cần phải đoàn kết, chung tay xây dựng hoà bình trên
biển Đông và yêu cầu các nước tuân thủ luật pháp đã có. Ngay lập tức hoàn thành COC để ràng buộc về pháp lý với Trung Quốc. Thứ hai, cộng đồng quốc tế và các nước lớn trên thế giới như Mỹ, châu Âu, Australia, Nhật Bản, Ấn Độ cần gia tăng áp lực lên Trung Quốc, yêu cầu chấm dứt các hành vi phi pháp trên biển Đông”. Theo nhà báo Indonesia, cộng đồng quốc tế đã đưa ra nhiều chỉ trích đối với các hành động của Trung Quốc. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ đã cực lực lên án các hành động đơn phương và khiêu khích của Trung Quốc như bồi đắp và quân sự hóa các đảo tranh chấp ở Biển Đông, áp đặt chủ quyền phi pháp trên Biển Đông, dùng dân quân biển để đe dọa và cưỡng ép các nước khác. Nhật Bản, Liên minh Châu Âu, Pháp, Đức, Anh, Canada và nhiều quốc gia khác cũng tố cáo các hành động đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông và kêu gọi bảo vệ hoà bình dựa trên luật pháp.

Powered by Blogger.