Hải Ngoại Ngày Nay


LIÊN KẾT HẢI NGOẠI YỂM TRỢ QUỐC NỘI ĐẤU TRANH

GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI VIỆT CỘNG

GIẢi TRỪ HIỂM HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG

Chào Mừng 2021 Nhìn Lại 2020.

Saturday, January 2, 2021 // ,

 Chào Mừng 2021 Nhìn Lại 2020.

Lê Minh Nguyên

Đúng 100 năm sau đại dịch Spanish Flu 1918-1920 (có tên như thế vì báo chí Tây Ban Nha lúc đó được tự do đăng tải chứ không phải phát xuất từ TBN) thì thế giới lâm vào đại dịch Covid-19 mà mức độ tàn phá hết sức nặng nề và vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt.

Covid đã nhiễm trên 84 triệu người và giết trên 1.8 triệu người trên thế giới mà trong đó Mỹ chiếm đến gần 1/4 (Mỹ nhiễm trên 20 triệu, chết trên 356,000). Theo CDC trong 3 tuần đầu tháng 1/2021 số chết sẽ thêm khoảng 80,000 tức trung bình một ngày có khoảng 3,800 người chết ở Mỹ.

Vaccine lại ra chậm hơn dự trù là 20 triệu liều, chỉ 12.4 triệu liều được phân phối và 2.8 triệu trong số này được chích. Do biến thể mới từ Anh với 70% dễ lây nhiễm hơn đã xuất hiện ở Colorado, California, Florida… cho nên vaccine có thể chỉ được chích một mũi thay vì hai như dự trù, một mũi có hiệu quả 80% (hai mũi 95%), mũi thứ hai phải mất vài tháng sau, khi sản xuất đã bắt kịp.

Covid gây thiệt hại nặng nề cho kinh tế thế giới mà việc khôi phục lại phải mất nhiều năm. Thế giới đang trãi qua một mùa đông đen tối, trong khi ánh sáng còn ở cuối đường hầm là vaccines với kỹ thuật tân kỳ mRNA của Pfizer và Moderna được phát minh trong thời gian kỷ lục chưa đầy một năm.

Brexit sau 4.5 năm thương thảo, cuối cùng Anh và Liên Âu đạt được thoả thuận hôm 24/12, chỉ 7 ngày trước khi chấm dứt giai đoạn chuyển tiếp. Từ ngày 1/1/21 về sau thì công nhân, hàng hoá, dữ liệu, vốn, dịch vụ tài chính… không còn tự do lưu thông mà phải dưới sự kiểm soát của luật pháp và thuế quan hai bên. Anh cần thị trường Liên Âu hơn Liên Âu cần thị trường Anh vì Anh bán vào Liên Âu đến 50% trong khi Liên Âu bán vào Anh chỉ 8%. Anh không còn là đế quốc mà mặt trời không bao giờ lặn như xưa, bây giờ ra khỏi Liên Âu rất dễ sa vào vòng tay của Trung Quốc và TQ đang khai thác lợi thế này.

Biển Đông, Đài Loan, Hồng Kông, Tân Cương là những điểm nóng của năm 2020.

Ở Biển Đông tàu Mỹ tuần tra đông hơn và thường xuyên hơn, nhưng TQ thì đem mồi COC hứa hẹn thông qua bộ quy tắc ứng xử trong vòng 3 năm tới với 10 quốc gia Đông Nam Á, cùng những khoảng cho vay dễ dãi để thực hiện Vành Đai Con Đường. TQ thì mua thời gian để bành trướng sức mạnh quân sự, còn Mỹ thì mua thời gian để củng cố sức mạnh của những quốc gia địa chiến lược trong vùng (Nam Dương, Phi, Việt Nam…) trước khi TQ sút chuồng về quân sự.

Ở Đài Loan thì sự tái đắc cử của bà tổng thống Thái Anh Văn cùng sự mở rộng bang giao và bán vũ khí của Mỹ đã củng cố thêm vị thế độc lập của nước này, trước sự gia tăng đe doạ của TQ ở eo biển Đài Loan như thường xuyên tập trận và bay vào vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan. Đài Loan biết mình là con cờ của tranh chấp đại cường và đang thận trọng xây dựng sự độc lập mà không cần tuyên bố.

Ở Hồng Kông những người trẻ đã dũng cảm biểu tình chống luật an ninh mà TQ áp đặt để kết liễu dân chủ HKong và xoá nền tảng một quốc gia hai chế độ sớm hơn 50 năm mà TQ cam kết với Anh năm 1984 để trả HKong về cho TQ năm 1997. TQ đã thành công nhờ vào sự dững dưng của thế giới và sự suy nhược của Anh – một thất bại đáng buồn của dân chủ.

Tân Cương, hàng triệu người Duy Ngô Nhĩ bị lùa vào các trại tập trung, bị cưỡng bách lao động, bị tẩy não, áp dụng chính sách diệt chủng cho khoảng 21 triệu dân nơi này. Sự phản ứng yếu ớt của thế giới và Thổ Nhĩ Kỳ không thay đổi được TQ, tương lai của dân tộc này có thể bị diệt vong. TQ cần lấy nơi đây làm hạ tầng cho Vành Đai Con Đường trên huớng tiến tây.

Úc và California (giữa tháng 9) bị cháy rừng chưa từng thấy trước đây. Vùng cháy ở Úc to đến 27.2 triệu mẫu và giết trên một tỷ động vật. Các vụ cháy này, bão lụt miền Trung Việt Nam và đông-nam HK, băng tan ở Bắc và Nam Cực (mãnh băng 1,636 km2 lớn hơn thành phố London vỡ trôi ra biển) cho thấy vấn đề biến đổi khí hậu càng ngày càng gây ra nhiều thiên tai làm thiệt hại môi trường sống và kinh tế toàn cầu.

Ở Beirut, Lebanon, vụ nổ kho phân bón ở cảng ngày 4/8 đã giết 204 người, làm 6,500 người bị thương và 300,000 người mất nơi cư trú. Nó là một vụ nổ chưa từng thấy mà không do chiến tranh gây ra.

Ở Thái Lan, khi vua cha băng hà, quân đội lộng quyền, vua con nhu nhược và sống ở Đức nhiều hơn ở Thái. Thái theo chế độ quân chủ lập hiến, tức dân chủ giống như Anh hay Nhật. Nhưng vua cha luôn can thiệp vào chính quyền không cho quốc hội được độc lập, khi vua cha không hài lòng thủ tướng thì hay dùng quân đội hoặc toà bảo hiến để lật đổ. Từ khi lập ra chế độ năm 1932 đến nay Thái Lan kinh qua 20 cuộc đảo chánh và 22 hiến pháp. Vua cha là phù thuỷ dùng quân đội làm âm binh, phù thủy cao tay ấn nên trị được âm binh.

Nhưng vua con là dân chơi bời nên bây giờ âm binh vật ngược lại phù thủy, vua con nằm trong sự điều khiển của quân đội. Các cuộc biểu tình rầm rộ đầy khí thế ở Thái từ giữa tháng 10 là nhằm cải tổ vương quyền cho giống như Anh, Ấn, dẹp luật khi quân hà khắc, đem quân đội trở về doanh trại, cho dân chủ được thực sự vận hành.

Ở Belarus, cuộc bầu cử tổng thống ngày 9/8 mà có khoảng 70 quan sát viên bầu cử bị bắt và trên 5,000 chứng cớ gian lận. Tổng thống Alexander Lukachenko nắm quyền từ năm 1994 tái tranh nhiệm kỳ sáu với nữ ứng cử viên đối lập Svetlana Tikhanovskaia (thay chồng là blogger đang ngồi tù). Bà trở thành thần tượng của đối lập và được một số nước châu Âu hậu thuẫn. Có ít nhất 200,000 người tham gia xuống đường ngày 16/8 và những ngày sau đó ở thủ đô Minsk, đông nhất từ khi Belarus độc lập. Yếu tố địa chính trị (trái độn sát biên giới Nga) làm cho phong trào dân chủ chưa thành công nhưng với sự suy tàn của triều đại Putin và quang cảnh thế giới 2021 sáng lạng hơn thì Belarus sẽ dễ dân chủ hoá hơn.

Ở Venezuela, Covid đã giúp cho TT Maduro cơ hội để cấm và đàn áp biểu tình. Cuộc bầu cử Quốc Hội hôm 6/12 mà kết quả coi như đã được biết trước do các đảng phái đối lập kêu gọi tẩy chay và Chủ tịch Quốc Hội Juan Guaido lãnh đạo đối lập không còn sức thu hút cử tri. Maduro khống chế được QH làm cho Guaido mất lợi thế. Các quốc gia dân chủ, nhất là Mỹ vì vật lộn với Covid mà xao lãng Venezuela. Nước này mất đi cơ hội để thay đổi dân chủ dù đã rất thành công trong giai đoạn đầu, tiền Covid.

Ở Ấn Độ, chiến tranh biên giới với Trung Quốc được tượng hình từ cuối tháng 5 và lên cao vào tháng 8. Ấn tố cáo TQ có hành vi quân sự khiêu khích nhằm thay đổi hiện trạng ở vùng Ladakh. Họ đã đụng độ từ tháng 6 ở vùng thung lũng Galwan trên cao nguyên Ladakh. Đây là vùng cao độ lạnh buôt khô cằn, chẳng có giá trị gì với TQ, nhưng TQ cố ý gây sự để Ấn mất thăng bằng và mất tập trung ở những nơi như Tây Tạng mà TQ đang gặp khó khăn. Quan trọng hơn, TQ muốn ngăn Ấn ở Đông Nam Á như việc TQ muốn đào kinh Kra ở Thái, cũng như không cho Ấn có điều kiện để cũng cố quân sự các đảo ở Ấn Độ Dương, làm suy yếu đại chiến lược Vành Đai Con Đường của họ.

Ở vùng Thượng Karabakh, giao tranh đã xảy ra giữa Azerbaijan và lực lượng ly khai tại vùng Thượng Karabakh do Armenia yểm trợ vào cuối tháng 9 và đầu thắng 10. Nga và Thổ Nhĩ Kỳ can thiệp đem quân vào giữ hoà bình nên cả hai đều thua thiệt, Armenia bị thua thiệt nhiều hơn. Vùng này thuộc về Azerbaijan nhưng đa số dân là người Armenia, xung đột kéo dài từ đầu thập niên 1990 khi Liên Xô tan rã. Thổ là đồng minh của Azerbaijan. Nga cung cấp vũ khí cho quân đội cả hai bên. Nga có căn cứ quân sự ở Armenia và có thỏa ước phòng thủ với Armenia. Iran nghiêng về Armenia. Đây là lò lửa địa chính trị có thể cháy lan ra toàn vùng bất cứ lúc nào.

Ở Iran, Mỹ và Do Thái đã kết nhau để tiêu hao sức mạnh quân sự của Iran. Ngày 3/1 Mỹ đã dùng drone để hạ sát tướng Suleimani, lãnh đạo quân sự vùng Trung Đông và hôm 27/11 nhà nguyên tử học Fakhrizadeh bị ám sát, dư luận cho là Do Thái. Hai ngày nữa là giỗ 1 năm của tướng Suleimani, ngay sau đó là tang 40 ngày Fakhrizadeh. TT Trump và thủ tướng Netanyahu có nhu cầu ra tay nếu Iran có động thái gì, dù nhỏ, trong lúc này.

Ở Mỹ, nổi cợm là vụ sát hại George Floyd làm nổ ra những cuộc biểu tình rầm rộ ở nhiều tiểu bang do phong trào Black Lives Matter khởi xuớng để đòi công lý, chống cảnh sát bạo hành và chống kỳ thị có hệ thống. Kế đó là cuộc bầu cử tổng thống mà ông cựu phó tổng thống Joe Biden thắng hơn 7 triệu phiếu phổ thông (81 triệu vs 74 triệu) và 74 phiếu cử tri đoàn (306 vs 232). TT Trump không chấp nhận thua nhưng các định chế Mỹ thì cứ vận hành theo Hiến Pháp quy định.

Ngày 6/1 tới đây là bước cuối, Quốc Hội vận hành theo đòi hỏi của HP để chuẩn thuận quyết định từ cử tri đoàn. Trừ khi phá bỏ HP thì kết quả bầu cử mới có cơ hội đảo ngược, vì các định chế (toà án, Tối Cao Pháp Viện, các uỷ ban tổ chức bầu cử, chính quyền và quốc hội tiểu bang, quốc hội liên bang) đã vận hành đúng theo quy định của HP.

Ở Việt Nam, nổi cợm là CSVN được thế ngư ông đắc lợi trong cuộc thương chiến Mỹ-Trung khi TQ dùng ngã VN, dán nhãn VN để đưa hàng sang Mỹ, và các công ty di dời sợi dây chuyền sản xuất của họ từ TQ qua VN. Chính quyền Mỹ vừa cho biết sẽ đánh thuế quan để trừng phạt VN, Nguyễn Xuân Phúc vội vã gọi phone cho TT Trump, nhưng cho tới hôm nay vẫn chưa biết là Mỹ có thay đổi.

Trong năm qua CSVN đã bắt Phạm Đoan Trang và rất nhiều Facebookers. Họ thảm sát Đồng Tâm, kết án oan Hồ Duy Hải. Ông Trọng đốt lò hầu hết đàn em của Nguyễn Tấn Dũng còn sót lại trong hệ thống. Các phe trong Đảng tìm cách cơ cấu người của mình cho Đại Hội XXIII từ 25/1 đến 2/2/21. Qua 14 hội nghị trung ương họ vẫn chưa chốt được nhân sự tứ trụ và sẽ tổ chức hội nghị trung ương 15 vào ngày 15/1/21.

Đóng cửa đánh nhau, họ cho nhân sự là điều tối mật, tin đồn rằng ông Trần Quốc Vượng sẽ là tổng bí thư, ông Nguyễn Xuân Phúc sẽ là chủ tịch nước, ông Vương Đình Huệ sẽ là thủ tướng và bà Trương Thị Mai sẽ là chủ tịch quốc hội. Nếu thế thì sẽ có hai người quá tuổi được huởng quy chế đặc biệt là ông Vượng và ông Phúc.

Nhìn chung, năm 2020 là một năm đen lịch sử, nó sẽ được ghi là năm của đại dịch Covid-19. Đại dịch và thiên tai của năm 2020 sẽ định hình cho những năm sau đó. Năm 2020 cũng là năm dân chủ ở khắp nơi bị thoái trào và độc tài được tung tăng thao túng.

Năm 2020 đang bước qua, nó mang đi những điều xui rũi và dù chúng ta đang còn ở trong đường hầm Covid nhưng phía cuối đường là ánh sáng. Năm 2021 mở ra hy vọng tươi đẹp hơn khi đại dịch được khắc phục vào khoảng mùa hè và kinh tế khắp nơi được trỗi dậy. Khuynh hướng độc tài và chính trị cô lập cũng sẽ lui về phía sau của kính chiếu hậu, phía trước là dân chủ, cộng tác, phát triển và ổn định hơn.

Chúc Mừng Năm Mới.
Lê Minh Nguyên – 1/1/2021

Đế quốc bành trướng, đế quốc lụn bại – Phần 4: Vài ngộ nhận

Sunday, August 2, 2020 // ,
1-8-2020
Tiếp theo Phần 1: One China – Phần 2: Bài học Đài Loan – Phần 3: Empire rise and falls
Tên lửa và du thuyền Sojus của Nga vẫn hoạt động cho đến hôm nay, sau khi chương trình Space Shuttle của NASA bị chấm dứt năm 2011. Ảnh: internet
Một số người coi “Đế quốc” là một từ xấu, vì trước đây báo chí thường lên án “Đế quốc Mỹ”, “Đế quốc Nhật”. Thật ra từ “Đế quốc” (Empire, Imperium) được gắn cho các cường quốc có tầm ảnh hưởng khu vực hoặc toàn cầu.
Người Anh, người Áo, người Mông Cổ từng tự hào được là công dân của các đế chế. Việt Nam cũng từng là đế quốc, đã tiêu diệt Champa, thôn tính một phần lãnh thổ của Ai-Lao, Chân Lạp. Sau trận Rạch Gầm, Xoài Mút, người Xiêm sợ người Việt như sợ cọp. Các vua Nguyễn được gọi là Hoàng Đế (Empereur). Những người theo tư tưởng Đại Việt sẽ rất tự hào nếu được kêu là bọn “Đế quốc”!
Do vậy những người yêu Liên Xô chớ tự ái khi thấy ai đó coi Liên Xô là Đế quốc. Các bạn sùng Mỹ cũng vậy.
Một ngộ nhận nữa của người Việt là cái tên Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Người thì tấm tắc khen nước Mỹ đa chủng tộc, kẻ thì chê là vì có nhiều chủng tộc chen nhau trên mảnh đất đó. USA là viết tắt của “United States of America”, lẽ ra phải gọi là “Các nước Mỹ hợp nhất”. States là số nhiều của state (bang, nước). Chúng hợp nhất (united) với nhau nên các cụ nhà ta gọi là “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”, chẳng dính dáng gì đến “Đa chủng tộc” hay “Thượng đẳng trắng” cả. Rồi thấy người Mỹ đen, trắng, vàng, đỏ, chung sống với nhau, dân ta tự suy ra “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” cho hợp lỗ tai. Nếu là “Hợp chủng quốc” thì phải dịch là “United Races of America”. Khi đó quốc kỳ Mỹ cóc cần 49 ngôi sao, đại diện cho 49 bang, mà phải là các loại mầu da cùng với các chữ Black Lives Matter & White Lives Matter mới đúng.
Còn cái tên Hoa Kỳ thì có người bảo từ Yankee mà ra. Yankee vốn là niềm tự hào của người Bắc Mỹ, nhưng kể từ cuộc nội chiến 1861-1865, dân các bang miền Nam coi đó là từ miệt thị bọn “Bắc kỳ”. Sau khi miền Bắc chiến thắng, từ Yankee cũng bị người ngoài nước Mỹ dùng để miệt thị người Mỹ nói chung (Như dân ta gọi người Hoa là Tàu, là Khựa, gọi người Mexico là Rệp, hay người Khmer gọi người Việt là bọn Duôn).
Có nguồn khác lại nói cái tên Hoa Kỳ xuất phát từ tiếng Hán: “花 旗” “Hoa cờ” vì người Hoa lần đầu biết nước Mỹ qua lá cờ đầy sao.
Chỉ riêng cái cách người Việt gọi nước Mỹ theo các kiểu tưởng tượng của người Hoa đã cho thấy quan hệ giữa hai nước trong 150 năm qua, kể từ ngày vua Tự Đức cử Bùi Viện sang đó cầu viện chống Pháp, luôn bị ảnh hưởng bởi yếu tố Trung Hoa.
Người Việt nên gọi các nước “United States of America” là “Liên bang Mỹ” mới là cách chính xác nhất, độc lập nhất.
Thể chế liên bang mà những người lập quốc xung quanh Thomas Jefferson đưa ra năm 1776 đã tạo ra thế cân bằng về quyền lực và cơ sở vững chắc cho nền dân chủ tiến bộ nhất lúc bấy giờ. Nền dân chủ đó đã biến từ mảnh đất của những người Âu thất bại, tù tội, của những người Phi nô lệ, của những người Á tha hương kiếm ăn, của những thổ dân Anh Điêng sống sót nạn diệt chủng, thành một quốc gia vĩ đại, thành công nhất trong lịch sử. Sự thành công đó không chỉ khiến các nhà cách tân châu Âu như Alexis de Tocqueville phải kính nể [1], mà cả những người Cộng Sản như Hồ Chí Minh ở Á Châu đã lấy cảm hứng từ tuyên ngôn Độc Lập của Mỹ để tuyên bố độc lập cho Việt Nam.
Nước Mỹ tuy không bị chiến tranh tàn phá trong hai cuộc đại chiến thế giới 1 và 2 (trừ căn cứ quân sự Trân Châu Cảng ở Thái Bình Dương), nhưng đã đóng góp nhiều xương máu và của cải vào cả hai cuộc chiến. Riêng trong chiến tranh thế giới 2, hơn 400 ngàn thanh niên Mỹ hy sinh để giải phóng các dân tộc châu  và châu Á khỏi chủ nghĩa Phát xít. Trong đó có cả người Mỹ da trắng, da đen và da đỏ.
Ai đã xem bộ phim Windtalker chắc không khỏi xúc động về chuyện thượng sỹ Joe Enders đã hy sinh thân mình để bảo vệ sinh mạng của anh binh nhì da đỏ Ben Yahzee trong chiến tranh chống Nhật ở Thái Bình Dương. Người Nhật cho đến lúc này đang làm chủ chiến trường vì họ có khả năng đọc các mật mã vô tuyến điện của Mỹ. Tình báo Mỹ phải sử dụng ngôn ngữ của bộ lạc da đỏ Navajo vào việc truyền tin. Những binh sỹ thông tin người Navajo này được bảo vệ như những bảo vật. Ngôn ngữ độc đáo này khiến tình báo Nhật bất lực và nó đã góp phần đảo ngược cục diện chiến tranh ở Thái Bình Dương.
Trong cuôc đại chiến này, Mỹ cũng đã hào hiệp viện trợ cho Liên Xô 11.3 tỷ USD (180 tỷ hôm nay), bao gồm 400.000 xe jeep, 14.000 máy bay 13.000 xe tank, 4 triệu rưởi tấn lương thực v.v[2]. Liên Xô, nước tiền tuyến hàng đầu chống Hitler đã mất 27 triệu công dân trong nỗ lực chung đánh bại Đế quốc Đức cuồng vọng.
Nước Nga từ lâu đã là một đế quốc khu vực. Nga Hoàng làm chủ một vùng rộng lớn từ trung Âu, xuyên châu Á, vượt eo biển Behring sang cả Alaska châu Mỹ, trải dài 12 múi giờ [3]. Câu nói “Mặt trời không bao giờ lặn trên đế chế” cũng đúng cho nước Nga. Nhưng chỉ từ khi cuộc cách mạng tháng 10.1917 nổ ra và Liên Bang Xô Viết thành lập, Đế chế toàn cầu nói tiếng Nga mới hình thành. Sau 1945, Liên Xô đã trở thành một siêu cường không thể chối cãi, cùng Mỹ chia đôi thiên hạ, thay đổi thế giới đến 1990.
Nhưng rồi siêu cường công nông này cũng mắc phải chu trình mà Paul Kennedy đã vạch ra: Bành trướng – Bị dàn trải – Kiệt sức – Tàn lụi. Trong những năm 1980, CNXH được xuất khẩu sang Angola, Ethiopia, Yemen, Lybia nhưng đến Afghanistan thì dây đàn bị đứt. Lý do chính là nền kinh tế kế hoạch hóa trong một xã hội bó cứng về sáng tạo, về tư tưởng đã không thể đáp ứng được đòi hỏi của cuộc tranh hùng toàn cầu. Năm 1991 Liên Xô tan rã, để lại cho Mỹ ngôi vị độc tôn “đế quốc số 1”, không có cạnh tranh.
CNXH là một hình thái xã hội của loài người, không phải chỉ có Marx hay Lenin mới nghĩ ra. Người Do Thái từ thế kỷ 19 đã bắt đầu xây dựng CNXH trong các Kibbutz ở Palestine. Cho đến nay vẫn còn khoảng 270 công xã như vậy hoạt động có hiệu quả ở Israel, với khoảng 150.000 thành viên. Ở Kibbutz mọi người đều tự nguyện đến sống và làm việc hết mình, có ý thức cộng đồng cao, không cần các biện pháp cưỡng bức của nhà nước cảnh sát. Đó là sự khác biệt với các mô hình nhà nước XHCN xô viết và chính vì thế mà nó sẽ còn tồn tại lâu dài.
Tuy nhiên sẽ là một ngộ nhận lớn, nếu nói CNXH xô viết đã ra đi mà không để lại dấu ấn gì. Bên cạnh công lao lớn nhất trong chiến tranh chống chủ nghĩa quốc xã, Liên Xô đã có công lớn trong công cuộc chinh phục vũ trụ, đã nhiều lần đi trước Mỹ trong cuộc đua này. Những tên tuổi như Sholokhov, Schostakowitsch, David Oistrach, Chachaturiam đã đi vào lịch sử văn hóa nhân loại. Chính cuộc chạy đua công nghệ và kinh tế giữa hai siêu cường Xô-Mỹ đã tạo động lực cho cuộc cách mạng KHKT lần thứ 3 của loài người. Chính những thách thức xã hội của Liên Xô và Đông Âu đã góp phần làm nổ ra cuộc cách mạng cánh tả 1968 ở tây Âu, mở đầu cho các nhà nước tư bản phúc lợi cao. Luật nhân quyền được Tổng thống Mỹ Johnson ký năm 1964, việc cho phép phụ nữ đi bầu ở Thụy sỹ 1971, Bồ Đào Nha 1974 đều chịu tác động của chiến tranh lạnh ý thức hệ với phe XHCN.
Một đặc điểm cơ bản của CNXH Đông Âu là không khuyến khích lối sống tiêu thụ. Nền kinh tế kế hoạch không bao giờ quảng cáo hàng cạnh tranh giá, chỉ quảng cáo lối sống ăn chắc mặc bền.
Khi đó, nền sản xuất hàng hóa phương Tây cũng phải theo trào lưu này. Hàng hóa ”Made in The USA” hay “Made in Germany” tốt vô kể. Các nền kinh tế Mỹ, Tây Âu phát triển bền vững, với một lực lượng lao động trình độ cao, xã hội ổn định. Sức sáng tạo không hạn chế của con người tự do đã tạo ra năng suất lao động cao hơn. Thắng thua đã được định đoạt.
Nói một cách khó nghe là: CNTB đã trở nên nhân bản hơn, tự do hơn bởi nó luôn phải chứng minh tính ưu việt so với khối XHCN.
Sau khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, động lực đó không còn nữa. Kẻ thù xưa ngã ngựa, trở thành lực lượng lao động rẻ tiền. Cuộc cạnh tranh về tính ưu việt chuyển thành cuộc chạy đua về lợi nhuận. Cái gọi là “hội nhập” của các nền kinh tế XHCN trước đây thực chất đã khiến thế giới chỉ còn lại một hệ thống kinh tế: TBCN.
Kỷ nguyên thịnh vượng của CNTB sau đó chỉ kéo dài 18 năm. Khi cuộc khủng hoảng tài chính Lehman-Brothers xảy ra ở Mỹ 2008, cuộc đại khủng hoảng bắt đầu.
(Còn tiếp)
_____
[1] Ông viết “Về Nền Dân Chủ Ở Mỹ” (De la démocratie en Amérique) năm 1840, sau khi đi thăm Mỹ về.
[3] 1867 Nga Hoàng bán cho Mỹ với giá 4,74 USD/km², tính ra là 7,2 triệu USD (130 triệu giá hôm nay).

Bốn vũ khí để thắng Trung Cộng

Friday, July 17, 2020 // ,
17-7-2020
Bài học từ các thế trận liên minh dẫn tới Thế Chiến Thứ Nhất và xung đột Eo Biển Thổ Nhĩ Kỳ trong Chiến tranh Lạnh cho thấy có bốn điều kiện để Việt Nam thoát ra khỏi sự khống chế của Trung Cộng và thắng Trung Cộng trong trận cuối cùng:
1. Việt Nam phải có dân chủ trước Trung Cộng: Trung Cộng không sợ USS George Washington hay bom nguyên tử mà sợ dân chủ và rất lo “sân sau” CSVN trở thành một nước dân chủ. Vũ khí dân chủ sẽ gây một phản ứng dây chuyền dẫn tới sự tan vỡ toàn bộ cơ chế CS. Một Trung Cộng mênh mông có nguy cơ tan thành nhiều mảnh, chủ quyền ngay tại lục địa còn không giữ được nói chi là “chủ quyền” trên hai nhóm đảo Hoàng Sa, Trường Sa xa xôi.
2. Đoàn kết dân tộc: Một dân tộc chia rẽ không thắng được ai. Một dân tộc chia rẽ, cấu xé nhau, không có một hướng đi chung, không thể vận dụng được sự ủng hộ từ quốc tế và cũng không xứng đáng để được quốc tế ủng hộ. Đây là thời điểm để xác định lại lòng yêu nước. Yêu nước ngày nay không phải là sản phẩm của chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay bùa mê CS mà gắn liền với với quyền lợi sống còn của đất nước và hướng đi dân chủ nhân bản của thời đại.
3. Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia: Việt Nam chỉ trở thành một vị trí chiến lược sau khi Trung Cộng thôn tính toàn lục địa Trung Hoa 1949 nhưng trước đó thì không. Biết chủ động chiến lược hóa, quốc tế hóa, quan trọng hóa vị trí của quốc gia cũng như biết khai thác mối lo của các cường quốc sẽ làm cho vị trí của quốc gia quan trọng hơn trong tranh chấp quốc tế.
4. Đoàn kết với láng giềng cùng hoàn cảnh và tham gia các liên minh tin cậy: Việt Nam đang đứng trước những ngã ba, ngã năm trong bang giao quốc tế, nhưng dù bao nhiêu ngả cũng chỉ có thể đi trên một con đường trong một thời điểm nhất định. Sự liên minh khôn khéo trong nhiều trường hợp giúp quốc gia tránh được chiến tranh hay có thêm thời gian để chuẩn bị chiến tranh.

Tưởng Niệm Cố Gs. Nguyễn Ngọc Huy và Những Bước Chân Người Lưu Dấu – Thanh-Thủy

Thursday, July 16, 2020 // ,
Tưởng Niệm Cố Gs. Nguyễn Ngọc Huy và Những Bước Chân Người Lưu Dấu – Thanh-Thủy
Được mời đến dự buổi thuyết-trình chánh-trị do Cộng-Đồng Người Việt Tự-Do Tại Ý tổ-chức, diễn-giả là Gs. Nguyễn-Ngọc-Huy, trong lòng tôi hoàn-toàn chưa có ý-niệm gì về chánh-trị và các chánh-khách mà ngày trước 30/4/75 tôi thường được thấy tên tuổi trên các báo-chí ở Saigon.
Tôi quyết-định đến dự buổi thuyết-trình là do lòng háo-hức, mong ước có sự ra đời một phong-trào tranh-đấu nhằm lật đổ chế-độ độc-tài Cộng-sản Việt-Nam với một đường-hướng phục-quốc và kiến-quốc rõ-ràng hơn là đến để biết Gs. Nguyễn-Ngọc-Huy là ai.
Hồi còn ở Việt-Nam, tôi không mấy cảm-tình với những người hoạt-động chánh-trị vì một lý-do đơn-giản là họ thường gây ra những sự xáo-trộn ở hậu-phương như các vụ tổ-chức xuống đường, các phong-trào sinh-viên, các phong-trào phản-chiến, v.v… trong khi ngoài mặt-trận anh em chiến-sĩ quốc-gia ngày càng đổ máu nhiều hơn trước sự tấn-công xâm-lược của Cộng-sản Hà-nội. Đến khi làn sóng đỏ tràn-ngập và  nhuộm đỏ khắp ba miền đất nước, hàng ngày những cảnh-tượng bi-đát, đe-dọa nặng-nề do chế-độ mới mang đến cho nhân-dân, mọi người sống trong lo-âu, sợ-hải, tôi lại càng oán-hận những người chỉ biết bon-chen, lợi-dụng thời-thế để mong chiếm-đoạt chánh-quyền hơn là dồn mọi nổ-lực để chống lại kẻ thù chung. Hậu-quả là bao nhiêu nổi thống-khổ mỗi ngày mỗi đè nặng lên đầu người dân vô tội và bao nhiêu chiến-sĩ đã bỏ mình một cách tức-tưởi trước cũng như sau những ngày tàn cuộc chiến.
Buổi thuyết-trình được tổ-chức vào ngày 10/6/1981 tại trung-tâm thành-phố Verona, nơi có nhiều thắng-cảnh đẹp và lưu-dấu những trang tình-sử Juliette-Roméo, thuộc miền Bắc nước Ý. Tôi lây-quây tìm nơi đậu xe, xong, cả gia-đình 7 người lững-thững hướng về phía chổ hội-trường theo họa. đồ chỉ-dẫn.
Trước cửa hội-trường là một khoảng trống, nhiều nhóm người đến trước tụ họp chuyện trò, vui cười. Khi vừa đến nơi thì một người bạn là cựu đại-úy quân-cụ mà trước kia tôi đã quen khi còn lang-thang cuộc đời binh-nghiệp ở Nha-Trang tách nhóm người đến chào và nắm tay tôi, vừa đi vừa nói:” Có anh đến tôi vui lắm, lại đây tôi giới-thiệu”. Tôi cúi đầu chào theo người bạn, một người đang đứng trước mặt, ăn mặc chĩnh-tề, hình dáng đơn-giản, khoan-thai, tóc bạc hoa râm, vừa mĩm miệng cười vừa khom mình chào lại chúng tôi, vừa đưa tay bắt với nét mặt hiền-từ như Đức Phật.
Người bạn giới-thiệu:” Thưa thầy, đây là anh Thanh-Thủy, một chiến-hữu của chúng tôi và đây là gia-đình, vợ con của anh”. Quay lại tôi, anh nói:” Xin giới-thiệu với anh, đây là thầy Huy, Giáo-sư Nguyễn-Ngọc-Huy từ Hoa-Kỳ mới sang. Giáo-sư sẽ cho chúng ta biết về vấn-đề kháng-chiến phục-quốc”.
Tôi giựt mình, cúi đầu chào thêm một lần nữa trong khi giáo-sư vẫn còn nắm tay tôi và nói:” Hân-hạnh được biết anh”. Tôi tự thốt trong lòng:” Trời! Gs. Nguyễn-Ngọc-Huy là người nầy sao? Một người ốm-yếu, nhỏ-nhắn, hiền-lành, dáng-độ từ-bi nầy là Gs. Nguyễn-Ngọc-Huy?”. Tôi cảm thấy bâng-khuâng và trong lòng vô cùng trống-trải nên không còn biết nói được gì, lặng thinh giữa số người đang đứng xung quanh bàn-tán đủ thứ chuyện.
Đồng-bào đến mỗi lúc một nhiều, anh đại-diện cộng-đồng mời tất cả vào hội-trường. Sau phần chào cờ và giới-thiệu của anh Châu-Sên-Hái, Chủ-Tịch Cộng-Đồng, Gs. Huy được mời lên diễn-đàn trước sự vỗ tay liên-tục của cữ-tọa.
Lần đầu tiên dự thính một buổi thuyết-trình về chánh-trị, tôi say-sưa theo-dỏi, Gs. Huy lần lần đưa mọi người vào những vùng ánh sáng kỳ-lạ, những chân trời mới đầy niềm tin và hy-vọng cho một tương-lai sáng-lạn trong công cuộc tranh-đấu để quang-phục lại quê-hương. Với giọng nói điềm-đạm, bình-dị từ đầu cho đến cuối, không một lời khích-động, không một tiếng khoa-trương, Giáo-sư đã dẫn-chứng bằng những sự-kiện lịch-sử, những mấu-chốt của vấn-đề thực-tế để đi đến kết-luận về một đường-hướng phục-quốc và kiến-quốc là vấn-đề làm được, mọi người hiện-diện tin-tưởng là có thể làm được với những quyết tâm.
Hình-ảnh và đức-độ của Gs. Huy ngày hôm đó làm cho tôi suy-nghĩ rất nhiều, suy nghĩ về quan-niệm của tôi đối với những người hoạt-động chánh-trị, đặc-biệt đối với Gs.Huy, suy-nghĩ về một tổ-chức kháng-chiến duy-nhứt mới ra đời và công-khai hoạt-động, đó là Liên-Minh Dân-Chủ Việt-Nam với các mục-tiêu, việc làm và chánh-sách của nó sẽ được áp-dụng sau khi đất nước quét sạch bóng quân thù. Tôi liên-tưởng đến quảng đời hạnh-phúc sẽ tràn-ngập trên quê-hương sau những năm dài điêu-tàn trong tay giặc Cộng và sau đó tôi ngấm-ngầm vận-động để tìm bạn, tìm thân-hữu và tìm chiến-hữu để chờ đợi…
Chánh-phủ Ý bắt đầu nhận người tị-nạn chánh-trị Việt-Nam vào mùa hè năm 1979. Năm ấy, đợt người đầu tiên đặt chân lên thành-phố nổi Venezia (Venise) vào ngày 20/8/79 gồm khoảng một ngàn người do 3 chiến hạm lớn thuộc lực-lượng hải-quân Ý được biệt-phái sang ngoài khơi biển Mã-Lai và vịnh Thái-Lan để cứu-vớt người Việt vượt biên. Sau một tháng thi-hành sứ-mạng nhân-đạo, 3 chiến-hạm mang tên Vittorio Veneto, Andrea Dorea và Strompoli quay về mang theo gần một ngàn người vừa được cứu sống trong cõi chết trên biển Đông, những tấm thân bi-thảm với lòng chất-ngất căm-hờn.
Sau một thời-gian ngắn ở trong các trại tị-nạn của hội Hồng-Thập-Tự Ý, tất cả đều được phân-chia sống rãi-rác khắp nơi trên các vùng thuộc miền bắc Ý. Số người ít-oi lại sống trên một địa-bàn quá rộng lớn nên đã tan.biến nhanh-chóng vào xã-hội địa-phương, vì vậy, việc tìm-kiếm chiến-hữu để tạo-dựng cơ-sở vào lúc ấy phải mất rất nhiều thời giờ và sự khó-khăn cũng không nhỏ vì thiếu đủ mọi phương-tiện. Cộng-đồng được thành-hình là do một số anh em có thiện-chí cố-gắng đứng ra đảm-nhận với đầy-dẫy những trở-ngại, nhưng dầu trở-ngại, Cộng-đồng cũng phải được thành-hình để vừa có tiếng nói chung, vừa tạo nhịp cầu liên-lạc để tìm lại chút hơi thở của quê-hương, sưỡi ấm lòng được phần nào trong cuộc-đời tạm-thời lìa xa xứ-sở.
Được tin trễ Gs.Huy trở lại Ý, sẽ có buổi nói chuyện với kiều-bào và báo-chí địa-phương lần thứ hai vào chiều chúa nhựt ngày 20/5/1982 tại thành-phố Milano, một thành-phố kỹ-nghệ vào bật nhứt nước Ý, chúng tôi cố-gắng thu-xếp và lái  xe đến dự sau khi điện-thoại liên-lạc với ban tổ-chức.
Đuờng dài hơn 4 giờ lái xe, 10 giờ tối chúng tôi đến hội-trường và buổi thuyết-trình cũng vừa mới bắt đầu trước đó 15 phút. Thấy chúng tôi từ xa đến, Giáo-sư bước xuống chào và bắt tay chúng tôi với nụ cười hiền-hậu cùng nét vui tươi rạng-rỡ với vẻ cảm-động sâu-xa chợt hiện trên gương mặt người lãnh-tụ khã-kính. Buổi thuyết-trình được tiếp-tục lại ngay sau đó trong bầu không-khí trang-nghiêm với sự theo dỏi một cách phấn-khởi của mọi người.
Sau phần thuyết-trình là phần giải đáp các câu hỏi. Tôi còn nhớ, một ký-giả Ý của nhựt báo Il Gazzettino có hỏi là, theo anh, qua các tài-liệu sách vở, anh được biết dân-tộc VN là một dân-tộc quật-cường, một dân-tộc anh-hùng, bất-khuất đã bao lần đánh đuổi  giặc ngoại-xâm mạnh hơn mình gắp bội, vậy vì lý-do gì mà sau khi bị Cộng-sản Hà-nội tấn-công, nhân-dân miền Nam có trên một triệu quân lại phải chịu buông súng đầu hàng vô điều-kiện và cho đến nay vẫn chưa nghe thấy một tổ-chức võ-trang nào nổi dậy. Trong khi đó, dân-tộc A-Phú-Hãn là một dân-tộc ít người biết đến, nhưng sau khi bị Cộng-sản Liên-Xô xua quân xâm-lược thì họ lại nổi lên khắp nơi các phong-trào kháng-chiến vũ-trang?
Không một chút do-dự, Giáo-sư nói, miền Nam VN kễ từ vĩ-tuyến 17 trỡ vào là một quốc-gia dân-chủ, dân-tộc thuần-nhứt với một lực-lượng quân-đội hùng-mạnh nhờ có kỹ-luật rất cao. Khi một vị Tổng-Thống ra lịnh đầu-hàng thì tất cả mọi cấp  dầu không muốn nhưng cũng phải tuân-lịnh để rồi sau đó họ tự-sát để bảo-toàn danh-dự.
Vì hầu hết vũ-khí đều bị tước-đoạt cho nên những người chống lại chế-độ chưa có điều-kiên nổi lên nhưng họ vẫn đang tiếp-tục tổ-chức tranh-đấu trong vòng bí-mật. Còn A-Phú-Hản là một quốc-gia còn sống theo từng bộ-lạc, quân-đội của họ được tổ-chức riêng theo mỗi bộ-lạc và không có tánh-cách thuần-nhứt, cho nên, lệnh từ trên đưa xuống không ảnh-hưởng hết được khắp nước. Vì vậy, khi Liên-Xô đưa quân sang xâm-lăng, rất nhiều bộ-lạc vẫn còn nguyên lực-lượng riêng cho nên họ có điều-kiện tổ-chức được các nhóm kháng-chiến.
Đến 12 giờ khuya mọi người chia tay, Giáo-sư bắt tay chào từng anh chị em và trở về Pháp. Riêng chúng tôi đến 5 giờ sáng ngày thứ Hai mới về đến nhà, ngồi một mình đầu óc miên-man nghĩ-ngợi về những điều vừa mới được nghe. Chừng nào anh em mới cho ra mắt cơ-sở tại Ý? Chừng nào mình mới có thể trở về được quê-hương? Uống những ly cà-phê đen do Bà-Xã pha để quên đi mệt-mõi, để tỉnh-táo đôi mắt, để nhìn suốt những khoảng không-gian dài, để khai-sáng một ý-thức mà trong đó tôi chợt thấy lấp-lánh những niềm-tin…Đồng hồ reo 7 giờ sáng, thì ra tôi đã thức suốt đêm, chuẫn-bị ăn điểm-tâm và đi làm việc như thường ngày, nhưng trong đầu lúc nào cũng theo đuổi một số ý-tưởng đẹp, tôi cảm thấy vui và thơ-thới trong lòng, quên hẳn đi một đêm dài không ngủ…
Lần thứ ba Giáo-sư đến Ý với hai anh Thái-Quan và Nhữ-Đình-Hùng, thuyết-trình vào buổi chiều thứ bảy 11/6/1983 cũng tại thành-phố Milano, lần nầy Giáo-sư có đem theo một số đặc-san Tự-Do Dân-Bản khổ nhỏ mới vừa phát-hành tại California và một vài tờ khổ lớn gắp đôi đã được phát-hành đầu tiên. Tôi bắt đầu đọc báo nầy kễ từ đó. Thuở ấy báo-chí Việt-ngữ đến Ý rất hiếm-hoi, được tờ báo nào là anh em chuyền nhau đọc say-mê, đọc nhiều lần và đọc thích-thú như đọc thơ tình ở cái tuổi hai mươi. Tôi rất vui và hừng chí khi đọc trong đó bài thơ Giã Bạn Lên Đường của thi-sĩ Đằng-Phương, lời chú-thích của Tòa-soạn trên bài thơ làm cho tôi tin-tưởng nhiều hơn về sự kết-hợp chặt-chẻ giữa hải-ngoại và quốc-nội. Đằng-Phương là một thi-sĩ mà tôi rất mến-mộ qua hai bài thơ Ngày Tang Yên-Báy và Ngọn Đuốt Việt-Nam mà tôi đã học năm Đệ Lục, tôi nghĩ, Đằng-Phương hiện đang ở hải-ngoại và cộng-tác với LMDCVN vì bài thơ nầy được sáng-tác vào năm 1976.
Trong ba năm liền, ba lần đến Ý, tôi chỉ được gặp Giáo-sư Huy với những chào hỏi xã-giao ngắn-ngủi sau những buổi thuyết-trình, sau đó, Giáo-sư lên đường ngay để sang các quốc-gia khác, vấn-đề thảo-luận riêng chỉ giữa Giáo-sư và những anh em trong ban tổ-chức, đại đa-số là những anh em cựu sinh-viên miền Nam du-học trước năm 1975, tôi không được có chưn trong ban tổ-chức nên không được vào dự các buổi họp riêng nầy, niềm tôn-kính Giáo-sư tôi chỉ giữ riêng trong lòng. Đôi lúc gặp được các anh em trong ban tổ-chức, tôi có đặt vấn-đề thành-lập cơ-sở LMDCVN tại Ý thì được anh em trả lời là: “Chờ Giáo-sư gởi hồ-sơ qua”. Tôi nghĩ thầm là sao Giáo-sư gởi hồ-sơ quá lâu vậy, hay là cán-bộ ở Ý chưa có ai ? Ba năm rồi mà hồ-sơ vẫn chưa tới trong khi đó thì một số đoàn-thể khác đang phát-động rần-rộ, một số anh em không chờ đợi được nên đã gia-nhập vào những tổ-chức nầy.
Ngày 10/10/1983, Giáo-sư trở lại Ý và lưu lại đến ngày 14/10/1983. Thời-gian nầy Giáo-sư có dịp đi nói chuyện nhiều nơi xa-xôi có người Việt sinh-sống như vùng Reggio Emilia, Torino, Milano và Treviso. Tại Treviso, sau phần thuyết-trình, có một Việt-kiều xin đặt câu hỏi, trước khi hỏi, ông ấy nói:” Thưa Ngài”, Giáo-sư chận lại mĩm cười và nhẹ-nhàng nói:” So với anh chị em, tôi đáng tuổi-tác như thế nào, anh chị em cứ xưng-hô như thế đó, cho tôi xin đứt hai chữ thưa Ngài”.
Sau buổi nói chuyện nầy, anh em đưa Giáo-sư về nhà của một thân-hữu ở gần đó ăn cháo gà, đoàn người tham-dự buổi nói chuyện lưu-luyến kéo theo, kẻ ngồi người đứng chật nhà, chuyện-trò nhộn-nhịp như Tết. Kẻ hỏi Giáo-sư chuyện nầy, người hỏi việc kia, Giáo-sư vui-vẻ vừa ăn vừa trả lời vừa kễ chuyện cho đến gần 2 giờ sáng mà nhiều anh chị em còn chưa muốn về. Bầu không-khí thân-mật và vui-tươi hôm ấy từ trước đến nay chưa từng thấy trên cái xứ người Việt ít-oi, rãi-rác, cuộc sống rất là quạnh-quẽ đìu-hiu.
Năm sau, ngày 05/3/1984, Giáo-sư trở lại Ý lần thứ năm và lưu lại cho đến ngày 11/3/84. Thời-gian nầy Giáo sư ở mỗi nơi vài ngày, ít nhiều tùy sự sắp-xếp của ban tổ-chức. Đầu tiên Giáo-sư ở Milano 2 ngày để gặp-gỡ một số nhân-vật của đảng Liberal Ý, sau đó Giáo-sư xuống Padova để thuyết-trình trước một số đảng viên Thiên-Chúa Giáo do ông Thị-Trưởng Camposampiero Marcello Pagetta tổ-chức.. Hôm ấy anh trưởng ban tổ-chức đang sửa-chữa nhà  nên có nhờ tôi để Giáo-sư ngủ trọ một đêm ở nhà tôi. Trưa hôm đó, Giáo-sư dùng một buổi cơm gia-đình thân-mật tại nhà, nhân dịp chuyện-trò vui-vẻ giữa gia-đình tôi và Giáo-sư, tôi có hỏi là bao giờ Giáo-sư mới có thể đặt cơ-sở LMDCVN tại Ý để anh chị em ở đây có môi-trường sinh-hoạt?
Đang uống ly sinh-tố, Giáo-sư đặt vội đặt ly xuống bàn, quay nhìn tôi và nói:” Mấy năm trước tôi đã có gởi hồ-sơ qua Ý  hai lần để thành-lập cơ-sở, anh có hỏi anh em trong ban tổ-chức không? Tôi nghĩ là cơ-sở Ý đã có lâu rồi chớ ! Thôi được, để một chút nữa hỏi lại anh trưởng ban tổ-chức thì rõ”. Khi anh ấy đến Giáo-sư liền hỏi ngay, anh ấy trả lời một câu rất ngắn gọn:” Tôi làm mất hết rồi !”. Im-lặng một lúc với nét mặt hơi thoáng buồn, Giáo-sư nhẹ-nhàng hỏi:” Vậy lần nầy về Mỹ tôi sẽ gởi thêm một lần nữa, và tôi sẽ gởi cho ai?”. Tôi nói nhanh như sợ bị lỡ dịp:” Xin Giáo-sư gởi cho tôi, mọi việc tôi lo sau khi nhận được hồ-sơ”.
Tối hôm đó, sau khi rất thành-công trong buổi nói chuyện, về lại nhà, tôi và Giáo-sư tâm-tình rất nhiều, tôi hỏi lung-tung,  hỏi mọi thứ những việc xa gần cho thỏa-mản những ấm-ức mà từ gần bốn năm nay tôi luôn ấp-ủ trong lòng.
Giáo-sư rất cởi-mở và bình-dị, tuy mới lần đầu tiên có dịp nói chuyện riêng, nhưng Giáo-sư xem tôi như người thân từ thuở nào. Đột nhiên Giáo-sư hỏi:” Hồi trước, khi học trường Đại-Học Kiến-Trúc Saigon, anh có biết Gs.Lê Minh Cảnh không?”
Tôi đáp:” Thưa Giáo-sư, tôi có một người thầy dạy môn Bê-Tông Cốt Sắt Thực-Hành tên Phạm-Minh-Cảnh, trường Kiến-Trúc Saigon không có giáo-sư nào tên Lê-Minh-Cảnh”.
Với giọng buồn buồn xa-xăm, Giáo-sư nói:” Anh nói đúng, anh Cảnh đó là anh cột chèo của tôi, vợ anh Cảnh là chị ruột của nhà tôi”.
Thấy vợ tôi rộn-ràng trong việc bếp-núc, Giáo-sư nói:” Chị cũng như nhà tôi, ngày xưa khi còn sống, nhà tôi lo hết mọi việc trong nhà từ việc nhỏ-nhặt cho đến việc chăm-sóc con cái và nuôi luôn tôi. Tôi chỉ biết lo công việc bên ngoài, viết-lách và hoạt-động chách-trị. Việc nhà tôi không biết gì hết” .
Sau câu nói, Giáo-sư ngồi trầm-ngâm vẻ mặt buồn, có lẽ giây phút nầy Giáo-sư đang thả tâm-hồn về hương-linh người bạn đời quá-cố thân-yêu. Tôi vô tình không hiểu, chợt Giáo-sư chép miệng:
” Nhà tôi bị chết đuối tại Vũng Tàu vì tai-nạn tắm biển!”.
Hôm sau, Giáo-sư lên đường sang tỉnh Bergamo vì tối hôm đó Giáo-sư sẽ thuyết-trình trong buổi họp do ông Romano, Thị-Trưởng kiêm Chủ-Tịch đảng Dân-Chủ Thiên Chúa Giáo vùng Lombardia tổ-chức. Chiều đó tôi cũng đến tỉnh nầy và điện-thoại mời các anh em ở lân-cận đến họp tại nhà một thân-hữu để nghe Giáo-sư chỉ-thị.
Hơn nửa tháng sau, tôi nhận được phong thơ đầu tiên của Giáo-sư từ Mỹ gởi qua, trong đó có một bức thơ với lời dặn-dò, thăm hỏi và một mẫu đơn xin gia nhập vào LMDCVN, một bản Tuyên-Ngôn và Điều-Lệ. Tôi liền điện-thoại triệu-tập một phiên họp tại nhà vào ngày thứ bảy 24/4/1984.
Một Ban Điều-Hành Tạm-Thời được thành-lập ngay, những anh em có mặt đều ký tên gia-nhập vào LMDCVN. Tôi đúc-kết một tờ trình gởi về Thiếu-tướng Phạm-Đăng-Lân lúc ấy là Tổng-Thơ-Ký Liên-Khu-Bộ Âu-Châu để xin được hợp thứ hóa, đồng-thời đề-cử một phái-đoàn hùng-hậu sang dự Đại-Hội LKBÂC kỳ 3 được tổ-chức tại Hòa-Lan vào tháng 7/1984.
Trong Đại-Hội nầy Giáo-sư có nhắc lại câu:” Thao-trường đỗ mồ hôi, chiến-trường bớt đỗ máu” để chỉ-thị cho anh chị em nên sữa-soạn chuẫn-bị cho một tranh-đấu gay-go sắp tới.
Nhân lời phát-biễu của ký-giã Nguyễn-Ang-Ca đề-nghị Giáo-sư nên sang Úc Châu một chuyến để gặp lại các cựu môn-sinh, Giáo-sư ngẫu-hứng hai câu thơ:
Úc-Châu dù xa-tít chân mây,
Nếu là bằng hữu thì tôi sẳn-sàng đi
Anh chị em có mặt trong Đại-Hội ngày hôm ấy chắc còn nhớ hai câu thơ nầy ?
Ngày 01/12/1984 Giáo-sư trở lại Ý lần thứ sáu. Một phiên họp được tổ-chức tại Romano di Lombardia thuộc tỉnh Bergamo, vào lúc 22giờ30, dưới sự Chủ-tọa của Giáo-sư và đông-đủ anh chị em tham-dự, Ban Điều-Hành Tạm-Thời tự-động giải-tán, thay vào đó một Ban Chấp-Hành Khu-Bộ Ý/Liên Minh Dân Chủ Việt Nam được bầu lên: Khu-Bộ Ý-Đại-Lợi được chánh-thức ra mắt. Giáo-sư hân-hoan ký tên vào Biên-Bản xác-nhận.
Từ nay nước Ý đã có cơ-sở, mỗi năm khi sang chủ-tọa  Đại-Hội, LKBÂC đều dành cho Khu-Bộ Ý một tuần lễ để Giáo sư sang sinh-hoạt. trước hoặc sau Đại-Hội trong chương-trình thăm-viếng các cơ-sở, tiếp-xúc, thuyết-trình với các chánh-giới Tây-phương và kiều bào, thân-hữu.
Cần nhấn mạnh là mỗi năm LKBÂC đều có tổ-chức Đại-Hội do chính Giáo-sư chủ-tọa: Lần 1 năm 1982 tại Paris, lần 2 năm 1983 tại Đức, lần 3 năm 1984 tại Hòa-Lan, lần 4 năm 1985 tại Ý, lần 5 năm 1986 tại Paris, lần 6 năm 1987 tại Bỉ, lần 7 năm 1988 tại Đức, lần 8 năm 1989 tại Hòa-Lan, lần 9 năm 1990 dự-trù tại Pháp nhưng vì phải tổ-chức Đại-Hội Thế-Giới kỳ 1 tại Hòa-Lan nên dời lại năm 1991, tổ-chức tại Lyon.
Những kỷ-niệm vui buồn, gian-khổ với giáo-sư đã hằn sâu trong lòng anh em từng lặn-lội đó đây, đưa rước. Những đêm sinh-hoạt chuyện-trò, vui-vẻ cởi-mở cũng có, nghiêm-trọng bàn tính công việc cũng có, những lúc 2, 3 giờ sáng anh em còn lái xe chở Giáo-sư trên những đoạn đường dài trở về nhà sau những lần thuyết-trình hoặc gặp-gỡ đồng bào ở các vùng xa-xôi.
Năm 1987, sau khi chia tay ở Đại-Hội LKBÂC tại Vương-quốc Bỉ, chúng tôi trở về Ý để sắp-xếp công việc để Giáo-sư sang theo chương-trình đã được định trước. Vài hôm sau thì Giáo-sư sang, tháp-tùng còn có ch/h Trần-Văn-Lâm của LKBÂC. Được điện-thoại thông-báo Giáo-sư sẽ đến ga xe lửa Padova vào lúc 11giờ đêm ngày 19/6/87. Chúng tôi đã có mặt tại nhà ga vào lúc 10giở30 tối vì đề-phòng xe lửa có thể đến sớm. Lúc đó nhằm đầu mùa hè ở Âu-Châu nên các hệ-thống sưỡi trên xe lửa đều ngưng hoạt-động. Vì liên tiếp nhiều ngày có mưa lớn nên thời-tiết trở nên lạnh-lẽo và chúng tôi đợi Giáo-sư trong cơn mưa lạnh đó. Đến 12giờ đêm vẫn chưa thấy Giáo-sư đến, chúng tôi nóng lòng đi đi, lại lại trong cảnh vắng-vẻ thênh-thang của hành-lang nhà ga, bổng chợt thấy ở phía xa, cuối khu của đường rầy khác có hai bóng người đang lom-khom dưới ánh đèn vàng nhạt-nhòa. Nghi-ngờ, chúng tôi đổi khu hầm và chạy vội đến một khoảng khá xa. Đến nơi, chúng tôi vừa ngỡ-ngàn vừa xúc-động thấy Giáo-sư mang trước ngực một chiếc cặp nặng đựng hồ-sơ, tay xách một túi nhỏ, tay kéo một xe đẩy cá-nhân với chiếc vali hành-lý, bước đi mệt-mõi, nặng-nhọc và lạnh run, Ch/h Lâm bên cạnh cũng không khá gì hơn vì đang bị đau chân. Thì ra xe lửa đến trể và đổi đường rầy. Ai thấy Giáo-sư trong tình-cảnh nầy mà không chua-xót, hình-hài khô-héo, ho sù-sụ từng cơn theo mỗi bước đi…Về đến nhà chúng tôi gần 1giờ khuya, vợ tôi đã bày-biện các thức ăn nóng và cũng đang nóng ruột chờ-đợi, anh em Chi-Bộ Vicenza có mặt đầy-đủ, thôi thì kẻ thoa dầu, người cạo gió, làm massage. Một lúc sau, Giáo-sư khỏe lại, ngồi ăn uống, chuyện-trò vui-vẻ, thân-mật với anh chị em như không có chuyện gì mệt-mỏi trong cuộc hành-trình dài vừa qua.
Ngày 19/6/1988, Giáo-sư đi Roma để dự lễ Phong-Thánh các vị tử đạo VN và ngày hôm sau 20/6 trở về Bắc Ý theo chương-trình làm việc. Tháp-tùng với Giáo-sư lần nầy có Ông bà Bs.Nguyễn-Tôn-Hoàn và Ch/h Đỗ-Trọng ở Oregon (Hoa-Kỳ). Lúc ấy vào khoảng trên 10giờ đêm, mưa to, gió lớn, chúng tôi đến nhà ga Padova đón-rước, nhưng cũng vì xe lửa đến trễ, nóng lòng chạy tới, chạy lui, tôi đóng vội cửa xe mà quên lấy chìa khóa ra, nên khi phái-đoàn tới, buộc lòng phải phá kiếng xe để mở cửa. Về đến nhà dưới cơn mưa dầm, nhưng Giáo-sư rất ấm lòng trong tình chiến-hữu bên cạnh sự hiện-diện của đông-đủ anh chị em với những khuôn mặt mừng-rỡ sau những mối lo-âu.
Chiều hôm sau, Giáo-sư thuyết-trình thành-công tại Thị-xã Montebelluna (Treviso) với sự tham-dự đông-đảo của người Ý, do chính ông Thị-trưởng tổ-chức. Sau đó, ông Thị-trưởng De Longhi nhân-danh nhân-dân thị-xã gắn Huy-Hiệu Thị-Xã Danh-Dự cho Giáo-sư Huy và Bs.Nguyễn-Tôn-Hoàn, đồng thời kêu gọi nhiều người Ý gia-nhập vào UBQTYTVNTD (CIVL). Đóng góp vào chương-trình là một buổi ăn dã-chiến thuần-túy VN và văn-nghệ với các bản hùng-ca do Khu-Bộ Ý đảm-trách, khoản-đải các quan-khách. Hôm ấy, khi về nhà Giáo-sư thật vui.
Lần chót, Giáo-sư sang Ý từ ngày 08/ đến 12/4/1989, chúng tôi sang Bern, Thủ-đô Thụy-Sĩ để rước Giáo-sư về sau một buổi thuyết-trình với Cộng-đồng VN tại đó. Đường dài trên 700 km, chúng tôi lái xe gần suốt đêm, Giáo-sư nằm nghĩ ở băng sau, nhưng thỉnh-thoảng vẫn nói chuyện với chúng tôi cho vui. Lúc nầy Giáo-sư đã bịnh nhiều, giọng nói hơi khó-khăn, ho và sặc nhiều. Đêm cuối cùng tại nhà tôi, Giáo-sư thức đến hơn 2giờ sáng để giúp tôi sắp-xếp lại Khu-Bộ. Sáu giờ sáng, tôi chở Giáo-sư ra ga xe lửa Padova để sang Marseille (Pháp). Tại nhà ga, trước khi chia tay, Giáo-sư vỗ nhẹ vào vai tôi ân-cần nói:” Trong việc điều-hành, anh ráng cởi-mở một chút, đừng cứng quá không có lợi. Có lẽ tháng 6 tới tôi sẽ trở lại Ý, anh coi sắp-xếp công việc với anh em để tôi sang làm việc”.
Tôi bắt tay chào Giáo-sư và lặng-lẽ bước đi, trong lòng có một gì chút bồn-chồn, ray-rức…
Tháng 5/89 tôi có nhận được thơ của Giáo-sư gởi từ Hoa-Kỳ cho biết tháng 6 Giáo-sư không sang Âu-Châu được, vì vậy không sang Ý được như dự-liệu. Từ đó, Giáo-sư đã vĩnh-viễn không bao giờ đến Ý nữa !!
Gần mười năm qua, Gs. Nguyễn-Ngọc-Huy đã đem đến cho anh chị em chúng tôi những niềm vui lớn-lao, những kỷ-niệm sâu-đậm và những tình thương chan-hòa trong tình gia-đình, tình chiến-hữu và tình thầy trò. Trong niềm vui lớn-lao nầy, chúng tôi thấy được một chân-lý,một con đường phải đi, những ánh sáng vinh-quang trong công cuộc quang-phục quê-hương, đất nước lúc nào cũng le-lói trong niềm tin, trong những quyết tâm.
Chúng tôi thường liên-tưởng đến ngày giải-phóng được dân-tộc, anh em trở về nhìn thấy sự reo vui, hạnh-phúc của đồng-bào từ Nam chí Bắc, kinh cũng như thượng, đèn liên-hoan sáng rực dưới một vòm trời bao-la mà từ lâu bị đấm-chìm trong bóng tối âm-u. Gs. Nguyễn-Ngọc-Huy, vị anh-hùng của dân-tộc, với đôi mắt đẫm lệ, mĩm miệng cười tươi, vẫy tay chào đồng-bào trên khắp ba miền đất nước. Giáo-sư sẽ cùng với anh chị em đốt lên những Ngọn Đuốc Việt-Nam trên đĩnh Ba-Vì, trên ngọn Trường-Sơn và Thất-Sơn để đánh dấu chấm dứt một thời-kỳ đen-tối của lịch-sử, đốt cháy mọi hận-thù oan-nghiệt, xóa tan những oán-hờn chồng-chất. Dân-tộc Việt-Nam sẽ trở về với đặc-thù của giống-nòi Hồng-Lạc, cần-mẫn, hiền-từ và khoang-dung, độ-lượng.
Nhưng, nay Giáo-sư đã nằm xuống, đoạn đường tranh-đấu còn dang-dở, anh em chiến-hữu khắp nơi như bị một chấn thương rĩ máu, con đường mà Giáo-sư đã vạch ra, anh chị em quyết chí đi cho trọn với một quyết-liệt hơn, với những ngọn lửa rực trong lòng, với những bàn tay nắm chặt nối-kết nhau, thề quyết vượt qua mọi chông gai đề hoàn-thành ý-nguyện của người đã khuất.
Giáo-sư ơi! Xin Người hãy bình-tâm an-nghĩ nơi Cõi Nước Nhược Non Bồng, những bước chân của Người nơi trần-thế lúc nào cũng còn lưu-dấu trong lòng anh chị em chúng tôi khắp nơi, nó luôn nhắc-nhở chúng tôi những kỷ-niệm để vững lòng trên suốt đoạn đường tranh-đấu.
Một điều đối với riêng tôi luôn được ghi khắc trong lòng một tâm nguyện là trong những lần sang Ý công-tác, trong những buổi cơm thân mật gia-đình, Gs.Nguyễn-Ngọc-Huy thường nhẹ-nhàng nói với tôi:” Mình nên tranh-đấu với tình thương rộng-rải, đừng nên giữ lòng thù-hận quá nặng-nề vì thù-hận sẽ sanh ra thù-hận, biết đến bao giờ mới gội rữa cho hết được. Giải-phóng đất nước khỏi chế-độ Cộng-sản xong, mình đừng nên trả thù trả oán gì hết mà đem hết sức để xây-dựng lại quê-hương. Được như vậy mới tránh được tang-tốc cho đồng-bào đã chịu quá nhiều đau-khổ và việc phục-hưng đất nước mới được dễ-dàng”. Tôi nhớ đời những lời nói đầy Tâm Phật của một vị lãnh-tụ khả-kính, thật vô cùng cao quý đáng để cho riêng tôi và người đời suy-ngẫm!
Một nén hương lòng kính dâng đến cố Giáo-sư Nguyễn Ngọc Huy và cũng để thắp sáng trong lòng tất cả anh chị em một chân-lý.
Thanh-Thủy
TB. Bài viết nầy của Thanh Thủy ngày 27/12/1990 trong Tập tài liệu Những Vầng Mây Trắng của tác giả và được điều chĩnh ngày 14/7/2020 do sự yêu cầu của anh TTK/TĐV Dương Tấn Hải dành riêng cho Diễn Đàn TĐV và Tập San TĐV do anh đảm trách để thay thế cho bài tham luận 151.

Dân Chủ Pháp Trị ở Mỹ – Lê Minh Nguyên

Saturday, June 6, 2020 // ,
Dân Chủ Pháp Trị ở Mỹ – Lê Minh Nguyên

Nga là một đất nước, được cấu tạo bởi các yếu tố như dân tộc, lãnh thổ, chính quyền.
Liên Xô là một quốc gia ý thức hệ, nó trừu tượng, được cấu tạo bởi chủ nghĩa cộng sản, tức một quốc gia hiện hữu bằng niềm tin vào một hệ tư tưởng. Khi người ta không còn tin vào hệ tư tưởng này nữa thì nó sụp đổ.
Mỹ là một quốc gia được xây dựng bằng Hiến Pháp. Không có HP sẽ không có nước Mỹ, mà có thể có đến vài chục nước khác nhau cho một vùng Bắc Mỹ đa chủng tộc.
Hiến Pháp là nơi gom góp các giá trị cao đẹp của con người để thể chế hoá thành Dân Chủ Pháp Trị (Democracy and The Rule OF Law). Thể chế này gồm có hai yếu tố cốt lõi là Dân Chủ và Pháp Trị. Nếu một trong hai yếu tố này, hoặc cả hai yếu tố cùng bị sứt mẻ thì chất liệu xã hội (social fabrics) của quốc gia “hợp chủng quốc” sẽ bị rạn nứt, dễ trở thành bán độc tài hay độc tài hoặc vỡ nhỏ ra.
Yếu tố Dân Chủ mà nét chính yếu là niềm tin vào sự bầu cử tự do, trong sáng và công bằng. Nếu niềm tin này bị sứt mẻ, như có sự gian lận, có sự can thiệp của ngoại bang, hay có sự tìm cách hạn chế cơ hội bỏ phiếu của công dân (voters supression)… thì niềm tin vào trụ cột này sẽ bị lung lay, luật chơi bị vi phạm, và thay vào bằng sức mạnh cùng thủ đoạn bẩn dơ, theo đó là sự xuất hiện của những chính khách độc tài.
Yếu tố Pháp Trị mà nét chính yếu là niềm tin vào một xã hội có công lý (social justice), vào nữ thần công lý bịt mắt cầm cân, nam-nữ, mạnh-yếu, nghèo-giàu, sang-hèn đều bình đẳng trước pháp luật. Nếu niềm tin này bị thiếu vắng hay bị xiêu vẹo như sự kỳ thị chủng tộc có hệ thống (systematic racism), sự phân bổ tài sản quốc gia (taxation) không đồng đều, tạo nên khoảng cách chênh lệch giàu-nghèo quá lớn… thì chất liệu xã hội (social fabrics) bị mục rữa, nguy cơ chia rẽ đất nước và các bất ổn dễ xảy ra.
Trong cuốn sách nổi tiếng Trại Súc Vật (Animal Farm) của ông George Orwell mà trong đó các loài thú khác nhau nổi dậy chống người chủ độc tài, với hy vọng xảy dựng một xã hội bình đẳng, tự do và hạnh phúc. Những tưởng là thành công, nhưng mục đích đẹp đẽ này đã bị phản bội, trại bị rơi trở lại vào độc tài bởi heo Napoleon.
Để xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn, các con thú cùng nhau làm ra một hệ thống giá trị gồm 7 điều răn của Thú Cầm Chủ Nghĩa:
1.Bất cứ thứ gì đi bằng hai chân là kẻ thù.
2.Bất cứ thứ gì đi bằng bốn chân, hoặc có cánh, là bạn.
3.Không thú nào được mặc quần áo.
4.Không thú nào được ngủ trên giường.
5.Không thú nào được uống rượu.
6.Không thú nào được giết thú nào.
7.Tất cả các thú đều bình đẳng.
Nhưng sau đó, heo Napoleon muốn làm độc tài nên thay đổi điều răn số 7 thành “Tất cả các thú đều bình đẳng, nhưng có một số thú thì bình đẳng hơn những con thú khác”. Còn cái khẩu hiệu “Bốn chân tốt, hai chân xấu” cũng được đổi thành “Bốn chân tốt, hai chân tốt hơn” để heo Napoleon liên minh với người.
Ông Orwell ở Anh là người chỉ trích sự độc tài của ông Stalin và quyển sách này ông muốn châm biếm Stalin.
Nước Mỹ, tất cả các viên chức làm việc cho chính quyền, dù là dân sự hay quân sự đều phải thề trung thành và bảo vệ Hiến Pháp, chứ không phải trung thành và bảo vệ lãnh đạo. Với cấp trên, nhất là trong quân đội mà cấp trên cao nhất là tổng tư lệnh tức tổng thống, họ thề tuân thượng lệnh (hợp pháp). Nếu lệnh bất hợp pháp mà họ vẫn thi hành thì họ phải chịu trách nhiệm cá nhân và có thể bị toà án buộc tội phải ngồi tù.
Dân Chủ Pháp Trị ở Mỹ đòi hỏi người làm việc trong chinh quyền trung thành với một hệ thống giá trị chứ không phải với một cá nhân nào dù người đó ở địa vị cao đến đâu, và không để hệ thống giá trị này bị tương nhượng. Tất cả đều phải đứng dưới Hiến Pháp và Luật Pháp.
Ở Việt Nam, giai cấp đảng viên đứng trên hiến pháp và luật pháp, chỉ khi nào bị khai trừ thì luật pháp mới đụng tới được. Luật pháp họ làm ra là để áp dụng cho dân chứ không phải cho họ. Luật pháp của họ là công cụ để cai trị và họ đặt cho nó một cái tên mỹ miều là Nhà Nước Pháp Quyền (Rule BY Law).
Với 244 năm từ ngày lập quốc, nước Mỹ đã trãi qua rất nhiều thử thách cho thể chế Dân Chủ Pháp Trị. Trong thời gian qua đã có khá nhiều dư luận phê bình chế độ tổng thống của Mỹ, thậm chí còn tiên đoán rằng nó sẽ sụp đổ. Nhưng lửa không nóng không thử được vàng. Chỉ có những thử thách lớn mới làm cho Dân Chủ Pháp Trị Mỹ được vững chắc hơn và hoàn hảo hơn. Bởi vì Dân Chủ Pháp Trị nó tạo ra một nền văn hoá chính trị thấm sâu vào máu huyết của toàn dân. Nó trở thành một lề lối sống.
Sóng gió rồi cũng sẽ qua, một chương lịch sử sẽ đóng lại, nhưng quyển sách Dân Chủ Pháp Trị có nguồn cảm hứng từ Hiến Pháp sẽ tiếp tục được viết mãi theo dòng thời gian cùng các thế hệ nối tiếp mở ra về phía trước, vẫn là những trang giấy trắng đợi chờ những nét tinh hoa và những chở chuyên đầy sáng tạo.
Nước Mỹ vẫn là thành phố trên đỉnh đồi, Dân Chủ Pháp Trị vẫn là thể chế tốt nhất cho con người để mưu cầu hạnh phúc.
Lê Minh Nguyên
6/6/20

Powered by Blogger.