Hải Ngoại Ngày Nay


LIÊN KẾT HẢI NGOẠI YỂM TRỢ QUỐC NỘI ĐẤU TRANH

GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI VIỆT CỘNG

GIẢi TRỪ HIỂM HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG

Việt Nam sẽ cho Mỹ đóng quân để đối phó Trung Quốc?

Saturday, March 13, 2021 // ,

RFI

Phó đô đốc Phillip Sawyer, tư lệnh Đệ thất Hạm đội Mỹ và chuẩn đô đốc John Fuller, chỉ huy hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson trong chuyến thăm Đà Nẵng, Việt Nam ngày 05/03/2018.
Phó đô đốc Phillip Sawyer, tư lệnh Đệ thất Hạm đội Mỹ và chuẩn đô đốc John Fuller, chỉ huy hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson trong chuyến thăm Đà Nẵng, Việt Nam ngày 05/03/2018. AP - Tran Van Minh
Thụy My
15 phút

Hoa Kỳ muốn trải rộng lực lượng tại châu Á để đối phó với Trung Quốc. Vấn đề là không có bao nhiêu quốc gia nhiệt tình với việc cho bố trí hỏa tiễn hoặc cho Mỹ đóng quân. Những người am hiểu ở Lầu Năm Góc hy vọng sự hiếu chiến của Bắc Kinh có thể khiến các nước châu Á cởi mở hơn. Một số nhà quan sát lạc quan còn nghĩ rằng ngay cả Việt Nam, cựu thù của Washington, chừng mươi, mười hai năm nữa cũng sẽ hoan nghênh quân Mỹ.

The Economist phân tích về những khả năng Mỹ đáp trả trước mối đe dọa của Trung Quốc trên Thái Bình Dương. Hôm 04/03, đô đốc Philip Davidson, chỉ huy trưởng lực lượng Mỹ ở Ấn Độ-Thái Bình Dương (INDOPACOM) cảnh báo Trung Quốc có thể vượt được Hoa Kỳ trong 5 năm tới. Viễn cảnh này khiến Quốc Hội Mỹ thức tỉnh.

Tên lửa từ Hoa lục đe dọa các căn cứ Mỹ ở Thái Bình Dương

Tháng 11/2020, Quốc Hội đã dành 2,2 tỉ đô la cho Quỹ răn đe Thái Bình Dương (PDI), và nay các tham mưu trưởng ở châu Á đòi hỏi tăng gấp đôi PDI với 4,7 tỉ đô la năm 2021-2022 và 22,7 tỉ đô la bổ sung cho đến 2027. Trong báo cáo ngày 01/03, họ đã giải thích vì sao.

Hoa Kỳ có lực lượng quân nhân, phi cơ và chiến hạm hùng hậu, nhưng vấn đề là bố trí ở đâu. Mỹ có nhiều căn cứ ở châu Á, nhất là Nhật Bản và Hàn Quốc, cả hai đều nằm trong tầm ngắm của tên lửa từ Hoa lục. Quan trọng nhất là đảo Guam – đủ gần để oanh tạc cơ và các loại vũ khí khác tấn công Hoa lục, và đủ xa tầm bắn của nhiều loại hỏa tiễn Trung Quốc. Guam là lãnh thổ của Mỹ nên không phải thương lượng với các đồng minh. Một căn cứ mới đã được mở ra ở Guam hồi tháng 10,  căn cứ đầu tiên của thủy quân lục chiến Mỹ tại châu Á kể từ 1952.

Tuy nhiên, cho dù tương đối an toàn, Guam vẫn có thể bị tấn công bởi một số loại hỏa tiễn đạn đạo mới của Trung Quốc, cũng như tên lửa hành trình tầm thấp bắn đi từ chiến hạm, tàu ngầm hay oanh tạc cơ. INDOPACOM muốn chi 4,4 tỉ đô la để nâng cấp hệ thống phòng không và hỏa tiễn trên hòn đảo, một phần thông qua các giàn radar mới vừa trên vệ tinh vừa từ mặt đất ở Palau – một quần đảo cách đó 1.300 kilomet.

Chỉ bố trí hỏa tiễn tại Guam thì chưa đủ. Đô đốc Davidson cho rằng cần phải trải rộng lực lượng, chi 9 tỉ đô la để xây dựng và nâng cấp các phi đạo, kho xăng, kho vũ khí…trên toàn khu vực. Những địa điểm tiềm năng gồm các vùng lãnh thổ Mỹ như đảo Tinian (quần đảo Bắc Mariana), các đảo ở những nước bạn Thái Bình Dương như Yap (Liên bang Micronesia), và một số điểm khác chưa được xác định tại châu Á.

Bị Bắc Kinh hà hiếp, cựu thù Việt Nam sẽ cởi mở hơn với Hoa Kỳ?

Theo chuyên gia Euan Graham, Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược, IISS, mục đích của việc triển khai không phải là co cụm chờ địch tấn công, mà để kẻ gieo gió là Trung Quốc phải gặt bão. Nhờ tổng thống Donald Trump rút khỏi Hiệp ước Lực lượng hạt nhân tầm trung (INF) năm 2019, Hoa Kỳ có thể chế tạo các hỏa tiễn quy ước địa-hải có tầm bắn trên 500 km, nhắm vào tàu chiến Trung Quốc. Vấn đề là không có bao nhiêu quốc gia nhiệt tình với việc cho bố trí hỏa tiễn Mỹ trong thời bình, hoặc với việc làm nơi trú đóng của quân Mỹ trong thời chiến. Chẳng hạn Singapore, ngã tư hàng hải chiến lược, bị Trung Quốc làm áp lực mạnh mẽ để không cho Mỹ sử dụng lãnh thổ.  Những người am hiểu ở Lầu Năm Góc biện luận rằng sự hiếu chiến của Bắc Kinh có thể khiến các nước châu Á cởi mở hơn với lực lượng Mỹ. Một số nhà quan sát lạc quan còn nghĩ rằng ngay cả Việt Nam, kẻ thù cũ của Washington, chừng mươi, mười hai năm nữa cũng sẽ hoan nghênh quân Mỹ.

Trong khi chờ đợi, INDOPACOM muốn bôi trơn quan hệ bằng « tiền tươi thóc thật ». Hơn 6,2 tỉ đô la sẽ được dùng để huấn luyện và trang bị cho các bạn bè ở khu vực trong sáu năm tới. Việc này rất cần thiết : năm ngoái ngân sách quốc phòng Trung Quốc lên đến 12 tỉ đô la, bằng tất cả các nước châu Á cộng lại. Trước mắt đây chỉ là mong muốn, vì ngân sách quốc phòng Hoa Kỳ năm nay không tăng, nhưng một khi Lầu Năm Góc rủng rỉnh túi tiền, Thái Bình Dương sẽ sôi sục.

Trung Quốc tự cô lập trước « thế lực thù địch » Mỹ

Trên lãnh vực kinh tế, The Economist nhận xét trong kế hoạch 5 năm lần thứ 14 mới vừa công bố, Trung Quốc mơ hồ về tăng trưởng, nhưng rõ ràng muốn « tự cung tự cấp », cô lập đất nước trước các « thế lực thù địch ».

Tuy không nêu tên Mỹ, Bắc Kinh lần này nhấn mạnh đến sự nguy hiểm của « chủ nghĩa bá quyền », trong khi kế hoạch 5 năm trước đó mô tả một thế giới đa phương và hòa bình có lợi cho Trung Quốc. Đáng chú ý là chỉ tiêu tăng trưởng cho 5 năm tới không được ấn định mà sẽ được đưa ra từng năm tùy theo điều kiện. Bất định về địa chính trị khiến Trung Quốc do dự, chẳng hạn không biết Washington sẽ tiếp tục bóp nghẹt nguồn cung chất bán dẫn hay không.

Tập Cận Bình nói về chiến lược hai chu lưu : tiếp tục xuất khẩu, nhưng song song đó chú trọng việc xây dựng một nền kinh tế năng động trong nước. Chương trình « Made in China 2025 » bị phương Tây chỉ trích không còn được nhắc đến, tuy nhiên các lãnh vực ưu tiên vẫn được giữ nguyên, từ tự động hóa cho đến xe điện. Kế hoạch nêu ra bảy công nghệ tiên tiến được cho là sống còn đối với sự phát triển và an ninh quốc gia, như tin học lượng tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo. Trung Quốc muốn giảm tỉ lệ nợ nần (đã lên đến gần 300% GDP), nhưng rất khó giảm nợ khi phải đổ tiền vào cơ sở hạ tầng và công nghệ cao.

Vì sao Trung Quốc không thể có tự do với internet ?

Về mặt xã hội, tuần báo Anh tìm cách lý giải « Vì sao internet không làm Trung Quốc trở nên tự do ». Vào lúc rạng đông của kỷ nguyên số, Bill Clinton dự báo một sự phối hợp giữa tư bản và internet có thể « giải phóng » Trung Quốc. Quan điểm của ông là táo bạo, nhưng sai lầm. Đó là năm 2000, và tổng thống Mỹ thời đó nhận thấy một cuộc cách mạng đang diễn ra, đảng cộng sản không còn độc quyền trên mọi lãnh vực. Clinton cho rằng « Trong thế kỷ mới, tự do sẽ lan tràn nhờ điện thoại di động và cáp ». Tất nhiên ông cũng nghe nói Trung Quốc định kiểm soát internet, nhưng không hề nghĩ Bắc Kinh có thể làm được.

Những người lãnh đạo đảng cộng sản trong suốt 20 năm sau đó đã chứng tỏ ngược lại, với một đội quân kiểm duyệt, công an chìm và cán bộ tuyên truyền. Các công ty internet phải tuyển mộ cả mấy chục ngàn người chuyên giám sát để xóa ngay các ý tưởng và hình ảnh bị cấm chỉ vài giây sau. Trong một chế độ không thể đụng chạm đến các lãnh đạo, ngành giải trí là nơi để « xả xú báp », giới nghệ sĩ trở thành mục tiêu dễ bị chỉ trích.

Khát khao dân chủ trỗi dậy ở phương Đông

Trong bài xã luận trên Le Point mang tựa đề « Tự do nổi lên ở phương Đông » (lấy ý từ bộ phim truyền hình « Mặt trời mọc ở phương Đông »), tác giả Nicolas Baverez nhận định, nếu thế giới ngả về châu Á, chủ nghĩa đế quốc của Trung Quốc sẽ bị làn sóng dân chủ mới nổi ở các nước trong khu vực chận lại.

Covid là cuộc khủng hoảng dịch tễ và kinh tế, nhưng cả về địa chính trị, làm đảo lộn tương quan lực lượng, đẩy châu Á tiến nhanh còn phương Tây thụt lùi – với những thiệt hại từ cuộc chiến Afghanistan, Irak, Syria, khủng hoảng tài chính 2008 và nay đến con virus từ Vũ Hán.

Bắc Kinh nhanh chóng lợi dụng để bành trướng : tăng cường ý thức hệ cộng sản, độc chiếm Biển Đông, siết lại Hồng Kông và đe dọa Đài Loan, ký hiệp định RCEP, gây hấn với Ấn Độ…Nhưng Úc không nhường bước khi Trung Quốc muốn hà hiếp, và xu hướng dân chủ nổi lên trong khu vực, từ Đài Loan, Hồng Kông đến Miến Điện đang mang lại những hy vọng.

Giới trẻ Miến Điện tiếp thu cẩm nang biểu tình Hồng Kông

Tại Đông Nam Á, Le Point có bài phóng sự dài từ Miến Điện nói về « Lớp trẻ thách thức tập đoàn quân sự ». Sau vụ đảo chính, cả một thế hệ đã đứng lên đối đầu với bạo lực, vũ khí của họ chỉ là mạng xã hội và tính sáng tạo.

Phong trào bất tuân dân sự với những người biểu tình đội nón bảo hộ lao động và mang mặt nạ chống khí độc không phải từ trên trời rơi xuống, mà được truyền cảm hứng từ « Cách mạng Dù » và biểu tình Hồng Kông năm 2019. Ngay từ những ngày đầu, các nhà hoạt động đã dịch ra tiếng Miến Điện cuốn cẩm nang « Manuel HK19 », một tài liệu trên Google được người biểu tình Hồng Kông soạn thảo tập thể năm 2019. Tài liệu này hướng dẫn đầy đủ chi tiết về các thiết bị và chiến thuật giúp đương đầu nhiều tháng trời với cảnh sát. Trên các mạng xã hội, cư dân mạng Miến Điện trong và ngoài nước tham gia Milk Tea Alliance. « Liên minh trà sữa » được khai sinh từ cuộc chiến đấu trên internet giữa giới trẻ Hồng Kông, Đài Loan, Thái Lan, Hàn Quốc với phe dân tộc chủ nghĩa Hoa lục.

Các tướng lãnh Miến Điện khó thể quay lui

Cũng về Miến Điện, The Economist nhận định các tướng lãnh không thể dấn lên mà không sử dụng bạo lực, nhưng họ cũng không thể lùi bước. Hàng trăm ngàn người biểu tình phản đối đảo chính : lớp trẻ từ chối quay lại với thời kỳ độc tài và nghèo khó của cha anh. Họ lớn lên trong thập niên vừa qua, trong cải cách kinh tế và một chính quyền bán dân chủ, nên quân đội đã « nhầm thế hệ » - như trên một câu khẩu hiệu.

Nhưng sau đó số người xuống đường đã ít lại, khi binh lính bắt đầu nổ súng. Mỗi khi quyền lực bị lung lay, « Tatmadaw » lại sử dụng đến bạo lực, như hồi 1988. Nhưng việc đàn áp dữ dội biểu tình sẽ khiến Miến Điện lại bị cô lập, đầu tư sụt giảm mạnh gây thiệt hại cho quyền lợi của quân đội, tuy nhiên các tướng lãnh chừng như không có đường lui.

Bóng tối bao trùm các trại tập trung Bắc Triều Tiên

Còn tại Bắc Triều Tiên, tuần báo Anh nhận thấy thu thập được thông tin về các trại lao động khổ sai (gu-lắc) của nước này hiện nay khó khăn hơn bao giờ hết.

Trung tâm dữ liệu vì nhân quyền Bắc Triều Tiên (NKDB) đặt tại Hàn Quốc đã thu thập được hàng trăm trường hợp người Bắc Triều Tiên bị tống vào trại tập trung vì các « tội chính trị », như chỉ trích chính quyền hay coi phim Hàn Quốc. Nhưng gần đây những câu chuyện này đã ít hơn rất nhiều, vì ngày càng ít tin tức lọt được ra ngoài. Các trại cải tạo được mang vẻ bề ngoài như những ngôi làng bình thường để không bị chú ý, khách nước ngoài không được phép đến gần. Những người tù cải tạo đào thoát lâu nay là nguồn thông tin chính về những gì diễn ra bên trong trại, nhưng trong những năm gần đây, ít có ai trốn được.

Lý do là biên giới bị kiểm soát nghiêm ngặt hơn, chi phí cho môi giới cao hơn, và Trung Quốc - nơi họ phải trung chuyển để có thể trốn vào các lãnh sự quán Hàn Quốc ở Đông Nam Á – được giám sát kỹ càng hơn. Đại dịch Covid đã làm khép kín gần như toàn bộ biên giới. Sokeel Park, thuộc Liberty in North Korea, thường giúp người Bắc Triều Tiên đào tẩu đi qua Trung Quốc, cho biết chưa nghe thấy ai trốn được sau tháng Giêng 2020.

Harry & Meghan :  Hoàng cung và showbiz

Trên lãnh vực xã hội, các báo không quên bình luận về xì-căng-đan mới nhất do hoàng tử nước Anh Harry và vợ là Meghan gây ra. L’Express gọi đây là vụ « thanh toán ân oán ở Vương tộc Windsor », còn Daily Telegraph cho rằng vụ này gây chấn động đến nỗi hoàng gia « núp sau canapé chưa đủ, cần phải mặc thêm áo giáp chống đạn ».

L’Express ghi nhận, đúng một năm sau khi rời khỏi hoàng gia Anh, hoàng tử Harry và Meghan Markle quyết định trả lời phỏng vấn của « bà hoàng truyền hình Mỹ » Oprah Winfrey. Việc chọn thời điểm phát đúng vào ngày nữ hoàng Elizabeth II có bài diễn văn thường niên với toàn thể 54 nước Khối Thịnh vượng chung Anh (Commonweath) không thể là ngẫu nhiên. Hai người không có gì để mất sau vụ « Megxit » : ngỡ rằng vẫn có thể giữ lại tước vị hoàng gia đồng thời ra riêng để làm ăn, nhưng rốt cuộc họ được biết rằng không thể bắt cá hai tay.

Theo The Economist, mang danh hiệu hoàng tộc có nghĩa là phải phục vụ định chế, biết tự lui về phía sau. Nữ hoàng trong suốt 70 năm trị vì không có những tuyên bố nẩy lửa, không phải bà là người nhạt nhẽo. Tờ báo cho rằng chính nhờ đó mà nữ hoàng rất được yêu mến, và vụ ầm ĩ vừa qua không làm lung lay được vị trí của bà cũng như hoàng gia Anh.

Vac-xin, một năm sau Covid : Tựa chính các tuần báo Pháp

Le Point đăng hình vẽ tổng thống Pháp Emmanuel Macron ngồi trên lưng một con ốc sên, chạy tựa « Vac-xin, nỗi đau Pháp ». Hồ sơ của tờ báo kể ra : quan liêu xơ cứng, hoài nghi…khiến đất nước của Pasteur chậm chân trong cuộc chạy đua sáng chế vac-xin. L’Express dành hồ sơ cho « Những bài học của Covid », với nhà sử học người Israel nổi tiếng Yuval Noah Harari trên trang bìa. Tác giả best-seller « Sapiens : Lược sử loài người » phân tích những kinh nghiệm có thể rút ra cho tương lai, sau một năm 2020 với những khám phá khoa học và những sai lầm chính trị.

Courrier International đặt vấn đề, sau những cuộc khủng hoảng lớn thường nảy sinh tâm trạng khao khát hưởng thụ cuộc sống, như sau Đệ nhất Thế chiến và dịch cúm Tây Ban Nha. Liệu sau trận đại dịch Covid này, chúng ta sẽ biết đến « những năm tháng loạn cuồng » với sáng tạo, tự do tình dục… hồi thập niên 20 ? L’Obs nói về « Céline Ciamma, người phụ nữ quyền lực của điện ảnh », bà là đạo diễn luôn đấu tranh cho bình đẳng giới trong ngành. Trang bìa The Economist là một chú heo đất với tựa đề « Canh bạc lớn của Biden » : chương trình tái thúc đẩy 1.900 tỉ đô la có ý nghĩa như thế nào đối với kinh tế thế giới.  

Gạc Ma: Trung Quốc xâm lược và thảm sát không phải chỉ là một ngày 14/3/1988

Diễm Thi, RFA

2021-03-13

Gạc Ma: Trung Quốc xâm lược và thảm sát không phải chỉ là một ngày 14/3/1988Biểu tình phản đối Trung Quốc nhân kỷ niệm trận chiến ở Đá Gạc Ma, quần đảo Trường Sa năm 1988. Hình chụp hôm 14/3/2016 ở Hà Nội
 Reuters


















Việt Nam mất Gạc Ma vào tay Trung Quốc đến nay đã 33 năm, nhưng vẫn còn những điều chưa được làm sáng tỏ. Việt Nam cần làm gì để bảo vệ chủ quyền biển đảo khi Trung Quốc ngày càng hung hăng và đe dọa chiến tranh?

Diễm Thi phỏng vấn nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc, tác giả của nhiều nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo Việt Nam về những vấn đề liên quan.

Diễm Thi: Thưa ông Đinh Kim Phúc, xin ông cho biết từ khi nào Trung Quốc có âm mưu đánh chiếm quần đảo Trường Sa?

Đinh Kim Phúc: Âm mưu đánh chiếm quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã được Trung Quốc lên kế hoạch từ sau ngày 19 tháng Một năm 1974 (ngày Trung Quốc cưỡng chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa).

Trước tình hình đó, trong tháng Tư năm 1975, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch Trường Sa và đánh chiếm, thu hồi năm đảo từ tay quân đội Sài Gòn gồm Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa Lớn. Việc Hải quân Nhân dân Việt Nam thu hồi và đóng giữ tại 5 đảo quan trọng này đã bước đầu ngăn chặn âm mưu thôn tính quần đảo Trường Sa của Trung Quốc.

Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, Trung Quốc đã vạch một chiến lược khác để thôn tính Trường Sa và xâm lấn chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông. Thay vì chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh" như đã làm ở Hoàng Sa năm 1974, Trung Quốc thực hiện chiến lược “vết dầu loang" và Việt Nam trở thành đối tượng tác chiến chủ yếu của quân đội Trung Quốc.

Diễm Thi: Theo ông, sự kiện Gạc Ma có thể gọi là trận hải chiến hay đó là cuộc thảm sát của phía hải quân Trung Quốc?

Đinh Kim Phúc: Chiến dịch CQ-88 (tên đầy đủ là Chiến dịch Chủ quyền 1988) là một chuỗi các hoạt động quân sự trên biển Đông do Hải quân Nhân dân Việt Nam tiến hành từ năm 1978 đến năm 1988 nhằm thiết lập quyền kiểm soát đối với các thực thể địa lý tại quần đảo Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông. Chiến dịch được tiến hành trong hoàn cảnh có 6 quốc gia và vùng lãnh thổ (Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei) cùng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và có các hành động chiếm đóng quân sự đối với một số thực thể địa lý tại quần đảo này.

Cuối tháng 12 năm 1986, Trung Quốc cho máy bay và tàu thuyền có cả tàu chiến hoạt động trinh sát, thăm dò từ khu vực đảo Song Tử Tây đến khu vực đảo Thuyền Chài. Trong khi đó, Philippines đẩy mạnh việc vận chuyển xây dựng công trình trên các đảo của họ đóng giữ (Song Tử Đông, Panatag). Cùng lúc đó ở phía nam Trường Sa, Malaysia bí mật đưa lực lượng ra chiếm đóng bãi đá Kỳ Vân, và tháng Một năm 1987, Malaysia chiếm đóng bãi đá Kiều Ngựa, làm cho tình hình thêm căng thẳng.

Trong khi đó, Hải quân Nhân dân Việt Nam vào cuối những năm 1970 và những năm 1980 còn mỏng và yếu (trong tháng Tư năm 1975, nếu như phần lớn các chiến đấu cơ của VNCH bay sang đất Thái, thì phần lớn các chiến hạm quan trọng của VNCH đã bỏ chạy sang Subic Bay của Philippines) nhưng với “Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta", Hải quân nhân dân Việt Nam đã bảo vệ chủ quyền với tất cả những gì đang có và bằng máu của người lính biển.

000_Hkg8090404.jpg
Hình minh hoạ. Biểu tình phản đối Trung Quốc ở Hà Nội hôm 9/12/2012. AFP

Trận đánh giữ Gạc Ma là đỉnh điểm trong Chiến dịch CQ-88. Trong trận đánh này, Việt Nam bị thiệt hại ba tàu bị bắn cháy và chìm, ba người tử trận, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam chín người bị bắt, 61 người vẫn mất tích và được xem là đã tử trận.

Việt Nam bị chiếm đảo Gạc Ma nhưng vẫn bảo vệ được chủ quyền tại các đảo Cô Lin và Len Đao cho đến nay.

Trong trận chiến ngày 14 tháng Ba, phía Trung Quốc thống kê họ đã bắn tổng cộng 285 viên đạn pháo 100 mm và 266 viên đạn pháo 37 mm, chưa kể các cỡ đạn nhỏ. Việc Trung Quốc dùng trọng pháo và súng phòng không tiêu diệt 64 chiến sĩ Công binh và Hải quân quân Việt Nam tay không đang giữ đảo là một cuộc thảm sát.

Cho đến hôm nay, 56 xương cốt của các cán bộ chiến sĩ Việt Nam vẫn nằm lại Gạc Ma, đã cho thấy bản lĩnh của các nhà lãnh đạo Việt Nam trong tình hữu nghị với Trung Quốc hiện nay.

Diễm Thi: Lệnh “Không được nổ súng” hay “không được nổ súng trước” được hiểu như thế nào, thưa ông?

Đinh Kim Phúc: Đã có nhiều tranh luận về tin đồn việc Bộ trưởng Quốc phòng lúc bấy giờ ra lệnh “không được nổ súng”?

Từng là người lính, nhưng tôi không tham gia trận đánh Gạc Ma. Với tư cách là người học lịch sử, dạy-học và nghiên cứu lịch sử, tôi chỉ nói rằng: nhìn toàn cục chiến dịch CQ-88 với những hy sinh, mất mát của những người trong cuộc, để ngày nay, Việt Nam mở rộng khu vực kiểm soát của mình lên 21 thực thể địa lý với 33 điểm đóng quân, kiểm soát một vùng nước rộng gần 100.000 km2 trên Biển Đông. Và cũng kể từ năm 1988 đến nay, Việt Nam không mất thêm một thực thể nào trên biển.

“Mệnh lệnh chiến đấu”? Hãy để các thế hệ lãnh đạo chiến dịch CQ-88 và những người trong cuộc lên tiếng. Xin đừng đứng trên bờ và ngồi trong phòng máy lạnh mà làm suy yếu niềm tin của nhân dân với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước.

64b12a00-c385-415d-a53f-beaf2c96e37f.jpeg
Người dân tham dự buổi tưởng niệm 64 chiến sĩ hải quân Việt Nam bị thảm sát hôm 14/3/1988. Ảnh chụp hôm 14/3/2013 tại Hà Nội. AFP

Diễm Thi: Sự kiện Gạc Ma phải chăng thúc đẩy tiến trình trở lại quan hệ bình thường với Trung Quốc bằng mật ước Thành Đô năm 1990?

Đinh Kim Phúc: Nếu nói chỉ một sự kiện Gạc Ma vào năm 1988 để dẫn đến tiến trình trở lại quan hệ bình thường với Trung Quốc là không đầy đủ.

Tại Đại hội lần thứ sáu của Đảng cộng sản Việt Nam, một trong những phương hướng chính về đối ngoại được thông qua đó là “sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ giữa hai nước”.

Cũng cần nhắc lại là tại hội nghị không chính thức giữa Trung Quốc và Việt Nam tại Thành Đô trong hai ngày ba và bốn tháng Chín năm 1990, có chín nguyên tắc được thông qua, trong đó bảy nguyên tắc về mặt quốc tế của vấn đề Campuchia và hai nguyên tắc về bình thường hóa quan hệ Việt Nam Trung Quốc.

Diễm Thi: Ông nhận định thực chất quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay ra sao, thưa ông?

Đinh Kim Phúc: Kể từ khi tuyên bố thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa vào năm 2007, 14 năm qua Trung Quốc tăng cường quấy phá, uy hiếp an ninh khu vực Biển Đông.

Trung Quốc trong các năm gần đây liên tục điều các tàu chấp pháp, dân quân biển vào các vùng đặc quyền kinh tế của các nước láng giềng bao gồm Việt Nam, quấy nhiễu hoạt động khai thác dầu khí của các quốc gia này.

Trong 14 năm qua, theo tôi, Trung Quốc có hai hành động tại Biển Đông được coi là đe dọa trực tiếp đến an ninh của Việt Nam. Thứ nhất là việc Trung Quốc kéo giàn khoan HD 981 và thềm lục địa của Việt Nam. Trong sự việc này cần phải ghi nhớ rằng Trung Quốc đã 30 lần từ chối tiếp xúc với Việt Nam. Thứ hai, tờ Hoàn Cầu Thời Báo của Trung Quốc hôm ba tháng Ba cho hay, cuộc tập trận ở vùng biển cách xa Hoa lục nhưng không cho biết rõ địa điểm, tuy nhiên tờ South China Morning Post của Hồng Kông ngày bốn tháng Ba lại cho hay, địa điểm diễn ra cuộc tập trận là đảo Tri Tôn, thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974.

Tại sao nói chuyện Trung Quốc tập trận đổ bộ chiếm đảo tại đảo Tri tôn đầu tháng Ba năm 2021 nghiêm trọng nhiều lần hơn vụ giàn khoan HD 981 năm 2014.

Vụ HD 981 năm 2014 là Trung Quốc tìm cách "khẳng định chủ quyền lãnh thổ và hải phận quốc gia" tại khu vực đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã thất bại vì bị Việt Nam một mặt phản đối trên mặt trận ngoại giao, mặt khác đưa tàu cảnh sát biển ra ngăn cản. Biến cố này cho dư luận thế giới thấy rằng quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ "có tranh chấp" chớ không phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Cuộc tập trận đổ bộ ở đảo Tri tôn của quân đội Trung Quốc nhằm mục đích răn đe Việt Nam (và các quốc gia có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Trung Quốc như Đài Loan, Nhật Bản, Philippines, Malaysia). Như vậy ngoài Việt Nam, các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc có thể "có xung đột quân sự" với Trung Quốc từ nay đến cuối năm 2021.

Năm 2021 là năm kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng CS Trung Quốc. Năm 2022 cũng là năm Tập Cận Bình hết nhiệm kỳ Chủ tịch nước thứ hai (hai nhiệm kỳ 10 năm). Tập Cận Bình cần một dấu ấn về kinh tế hoặc quân sự để khẳng định mình, hòng tìm thêm một vài nhiệm kỳ nữa.

Diễm Thi: Với tất cả những gì Trung Quốc đã làm và đang làm với Việt Nam về Biển Đông, ông nghĩ Việt Nam nên có giải pháp gì để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ?

Đinh Kim Phúc: Trước khi bàn đến giải pháp cho vấn đề Biển Đông và chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, điều đầu tiên theo tôi, Nhà nước cần phải khẳng định và ra một nghị quyết thành lập Huyện đảo Hoàng Sa. Phải có dân, phải có chính quyền và phải có lãnh thổ vì Trung Quốc đã có cái gọi là thành phố Tam Sa. Đó là yêu cầu đầu tiên mà chúng ta phải làm cho bằng được.

Vấn đề thứ hai là vấn đề chiến lược ngoại giao của Việt Nam nói chung và Biển Đông nói riêng là vấn đề tuyệt mật của Đảng và Nhà nước. Vậy giới nghiên cứu trong nước và các học giả trên thế giới dựa trên các dữ kiện nào để đánh giá, phân tích và góp ý?

Vấn đề thứ ba là quan điểm chính thức của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay đối với Công hàm Phạm Văn Đồng như thế nào? Thừa nhận hay phủ nhận? Những giải thích trên mặt trận truyền thông là “ta nói để ta nghe” hay nói để “Tòa án Công lý quốc tế” nghe?

Vấn đề thứ tư, trong lịch sử bang giao giữa VNDCCH và Trung Quốc từ năm 1949 đến 1975, ngoài Công hàm Phạm Văn Đồng còn có thỏa thuận nào khác không?

Tại hội nghị không chính thức ở Thành Đô vào tháng Chín năm 1990, ngoài chín nguyên tắc thỏa thuận để giải quyết vấn đề Campuchia và bình thường hóa quan hệ Trung-Việt, còn có thỏa thuận nào khác không để giải quyết vấn đề Hoàng Sa và vấn đề Trường Sa?

Nếu không có câu trả lời cho bốn vấn đề trên thì Việt Nam chỉ còn cách căng mình ra đối phó với Trung Quốc mà không chỉ ngày một ngày hai. Và vấn đề kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế sẽ không bao giờ xảy ra.  

 

Ngoại giao Việt Nam: Làm thế nào để dẫn dắt?

 

  • TS Đinh Hoàng Thắng
  • Gửi cho BBC từ Hà Nội
Việt Nam đông dân, có nhiều triển vọng phát triển
Chụp lại hình ảnh,

Việt Nam đông dân, có nhiều triển vọng phát triển

Chính phủ Việt Nam nói đã và đang sẵn sàng đóng vai trò dẫn dắt, vai trò tiên phong, đóng góp vào công việc của khu vực và thế giới.

Nhưng trước khi bàn khía cạnh quốc tế, chúng ta nên ưu tiên dẫn dắt chính bản thân mình. Để dẫn dắt, rất cần tư duy đột phá. Trước hết là đột phá trong các vấn đề sát sườn đối với an ninh và phát triển của đất nước.

Luật Ba Đặc khu

Một góc nhìn nổi trội về an ninh hiện nay là Luật Ba Đặc khu. Các chuyên gia hàng đầu trong nước đang “dẫn dắt” thúc đẩy để chính quyền thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng về ba đặc khu. Ông Nguyễn Xuân Phúc hứa sẽ đối thoại, lắng nghe và tiếp thu ý kiến của quần chúng, của các nhà cách mạng lão thành, của các tầng lớp tri thức trong nước và ngoài nước về Luật Ba Đặc khu.

Nhiều ý kiến cho rằng, vì tầm mức hệ trọng của Vân Đồn, Vân Phong, Phú Quốc, sau khi thực hiện việc lấy ý kiến tham vấn cán bộ lão thành và các giới khác nếu có, dự luật vẫn phải đưa ra trưng cầu dân ý.

Nhưng liệu “tân” chính phủ và đặc biệt là “tân” Thủ tướng tới đây có nghĩ như thế không là điều chúng ta chưa biết được. Trong trường hợp này, Ngoại giao khó dẫn dắt lắm, thậm chí có khi còn “bị dẫn dắt” nữa là khác.

Sườn phía Tây, phía Bắc và Đông Bắc của Việt Nam đã bị bịt lối ra. Nếu Luật Ba Đặc khu được thông qua, những hướng còn lại cũng bị chặn nốt. Việt Nam sẽ rơi vào một tình huống hết sức chông chênh về an ninh.

Nếu xảy ra một cuộc chiến tranh như cách đây 42 năm, không biết dàn lãnh đạo mới Việt Nam sẽ xử lý tình huống này như thế nào?

Một vấn đề nữa, đó là cần dẫn dắt để hoá giải những cảm giác bất an được ghi nhận trong dư luận người dân. Ngoại giao phải trả lời được câu hỏi: Với đà căng thẳng Trung – Mỹ đang leo thang trên nhiều địa hạt, đặc biệt là ở Biển Đông như hiện nay thì liệu Trung Quốc có đánh Việt Nam hay không? Nếu đánh thì đánh từ biển vào (Trường Sa trước?) hay tấn công ngay trên đất liền trước?

Càng bất an hơn, sau Đại hội 13, Bộ trưởng Công an Trung Quốc là quan chức cao cấp nước ngoài đầu tiên và duy nhất đến VN, nói là để chúc mừng thành công của Đại hội. Chúc mừng nhưng khi gặp Tổng bí thư, Chủ tịch nước và Thủ tướng VN, ông ấy lại tuyên bố, chuyến thăm nhằm quán triệt nhận thức này, quán triệt nhận thức kia…

Đối nội và đối ngoại là một

Muốn ngoại giao VN đóng góp hiệu quả vào việc giải quyết những vấn đề chung thì nội lực bên trong phải mạnh. Có mạnh trong nước thì đối ngoại mới hiệu quả, mới có hy vọng dẫn dắt trong khối. VN phải “hoà nhi bất đồng” chứ không thể “đồng nhi bất hoà”.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dường như cảm nhận được điều này nên chính ông từng kêu gọi đã đến lúc phải cải cách thể chế để tạo đột phát trong phát triển. Có chuyên gia hy vọng, Thủ tướng kế nhiệm sẽ tiếp tục sự nghiệp của chính phủ trước đây. Đó là cải cách thể chế, chuyển sang kinh tế số hóa và phát huy vai trò của kinh tế tư nhân, nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước.

Công cuộc cải cách này – chuyên gia gọi là “Đổi mới-2” – Ngoại giao có thể góp phần dẫn dắt. Ngoại giao hãy trở thành chất xúc tác để “hoà đồng bộ” một số định chế trong nước còn vênh với các định chế khu vực và toàn cầu mà VN đã cam kết từ trước đến nay. Các hiệp định song phương và đa phương ký kết trong thập niên hội nhập sâu rộng và toàn diện là những tiền để thuận lợi để ngoại giao góp phần dẫn dắt nội trị.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh
Chụp lại hình ảnh,

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh

Đối ngoại và đối nội tới đây phải là hai mặt của một đồng tiền, trở thành tổng thể chính sách được tích hợp từ các động lực trong nước và quốc tế. Ngoại giao là kênh thích hợp để VN có thể chuyển tải một số giá trị tiến bộ và phổ quát. VN cần có thái độ rõ ràng, minh bạch thông qua một số động thái ngoại giao khả tín. Ta không thể coi đảo chính quân sự ở Myanmar vừa qua chỉ là “cuộc bạo động”, mà phải gọi sự vật đúng tên Phải tích cực trong việc đưa ra các sáng kiến để thúc đẩy quá trình dân chủ hoá ở Myanmar, lên án chế độ quân phiệt.

Khi họp với các ngoại trưởng ASEAN, chúng ta cũng chưa chủ động có đề xuất gì cụ thể là điều đáng tiếc. Nếu VN là một trong các thành viên của “ASEAN Trojka” như các nước Indonesia, Malaysia và Singapore đề xuất, chúng ta có thể làm tăng quyền lực trung gian giữa Việt Nam với Myanmar và qua đó giữa ASEAN với khu vực và thế giới. Làm như thế mới là cách dẫn dắt hiệu quả.

Lướt sóng trên đấu trường ĐNÁ

Trong đấu trường Đông Nam Á, sự phức hợp trong quan hệ Trung – Mỹ thực sự là một thách thức đối với hầu hết các thành viên ASEAN. Việt Nam không phảỉ là ngoại lệ. Bởi vì, vị trí này luôn luôn là ngã tư chiến lược, là nơi mà lợi ích của các đại cường giao nhau và phần lớn va đập nhau.

Sự cạnh tranh ngày nay giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ chỉ là một giai đoạn khác của một động lực đã nằm sẵn hàng thế kỷ trong bản năng sống còn của khu vực. VN hẳn nhiên cùng một lúc, vừa phải phòng ngừa, vừa cân bằng, nhưng cũng vừa “khoát nước theo mưa” (hedge, balance, and bandwagon). Điều này nằm trong “gen chính trị” của VN trong lịch sử.

CSVN hẳn nhiên không thể coi nhẹ các mối quan hệ chính trị – kinh tế với Trung Quốc, nhưng đa số các nhà lãnh đạo VN cũng không đơn giản chỉ cấu trúc quan hệ giữa Hà Nội với Bắc Kinh trên cơ sở duy ý thức hệ, thương mại hay đầu tư. Chủ nghĩa dân tộc vẫn là một lực tác động mạnh mẽ đến bang giao.

Việt Nam chỉ có một đảng cầm quyền
Chụp lại hình ảnh,

Việt Nam chỉ có một đảng cầm quyền

Cái khó đối với “tân” chính phủ là rồi đây, mỗi khi có bế tắc hay căng thẳng trong bang giao, Bắc Kinh thường viện dẫn đến “đại cục” hay “thoả thuận cấp cao” là những “tập hợp mờ” mà chỉ rất ít nhà lãnh đạo Hà Nội quán triệt được nội hàm cụ thể. Hơn nữa, chính sách cân bằng dễ biến dạng thành “đu dây” với những hậu quả khó lường trước.

Với Hoa Kỳ cũng là một phép thử khó khăn về phương cách Ngoại giao dẫn dắt giới hoạch định chính sách để kiến tạo nền tảng cho một mối “quan hệ đối tác chiến lược” giữa hai nước có chung lợi ích và tầm nhìn. Việt Nam trên thực tế bị kẹt về mặt địa-chính trị giữa Hoa Kỳ, cường quốc thống trị và Trung Quốc, cường quốc mới nổi.

Phần lớn giới quan sát cho rằng VN có thể tiếp tục duy trì vị thế “cân bằng động” giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, trong khi một số ý kiến khác lo ngại rằng, VN có thể trở thành nạn nhân của những căng thẳng ngày càng gia tăng giữa hai cường quốc. Nhưng nếu dẫn dắt tốt, Việt Nam có thể tiến gần hơn với Hoa Kỳ bằng cách áp dụng một “khuôn khổ liên kết mềm với Mỹ”, trong đó Washington hỗ trợ nhiều hơn cho các nhu cầu về quốc phòng và an ninh của Hà Nội.

Để đổi lại, Hoa Kỳ có thể giành được “lòng tin chiến lược” của Việt Nam bằng cách đáp ứng các mối quan tâm chính của Hà Nội, tức là không can thiệp vào chính trị trong nước và không có ý định thay đổi thể chế ở đây. Đồng thời, Việt Nam, với tư cách là một cường quốc bậc trung, cần đầu tư nhiều hơn vào việc thúc đẩy hòa bình và ổn định trong khu vực.

Bài học “dân tộc với thời đại”

Một trong những bãn lĩnh mới, tâm thế mới, theo lãnh đạo Bộ Ngoại giao, là Việt Nam sẽ chủ động tham gia vào quá trình định hình các cấu trúc khu vực, xây dựng các khuôn khổ ở tầm khu vực, liên khu vực và toàn cầu.

Trước đây, chúng ta chưa thể hình dung sẽ xuất hiện một cấu trúc an ninh mới có quy mô toàn cầu như “không gian Ấn Thái Dương tự do và rộng mở” (FOIP) của “Bộ tứ”, bao gồm Úc, Nhật Bản, Ấn Độ và Hoa Kỳ. Chỉ cách đây hai năm, chưa ai nghĩ ASEAN sẽ có phản ứng tích cực trước khung khổ địa-chính trị đó và khẳng định được một AOIP (Quan điểm của ASEAN về FOIP). FOIP lại vừa xuất hiện thêm một “Bộ tứ” thứ hai ở châu Âu – “Bộ tứ” xuyên Đại Tây Dương – bao gồm Mỹ, Pháp, Đức, Anh.

Thuyền đánh cá ở cảng Dương Đông, Phú Quốc
Chụp lại hình ảnh,

Thuyền đánh cá ở cảng Dương Đông, Phú Quốc

Đối với các nước ASEAN, trong đó có Việt nam, việc biến “Bố tứ” thành một tổ chức an ninh tập thể để đối phó với Trung Quốc sẽ buộc các chính phủ phải chọn bên. Mà “chọn bên” là một sứ mệnh đầy thách thức. Vì vậy, giới quan sát có phần bất ngờ khi Thiếu tướng Công an Đỗ Lê Chi – Cục trưởng Cục Khoa học, Chiến lược và Lịch sử Công an, thuộc Tổng cục Tình báo VN – đã phát biểu công khai trong nước về khả năng hình thành một liên minh quân sự “NATO ở Đông Nam Á” và vai trò Việt Nam trong liên minh khu vực ấy.

Theo TS. Đỗ Lê Chi, vấn đề không phải là có nên tham gia hay không, mà vấn đề là, Việt Nam cần chủ động thúc đẩy việc hình thành một tổ chức an ninh đa phương, ràng buộc tại khu vực, vì lợi ích của tất cả các bên. Lâu nay ta vẫn luôn chủ trương chủ động hội nhập, nhưng có khi ta vẫn bị động. Các nước lớn triển khai chính sách mà mình cứ phải cân đong đo đếm là có tham gia hay là không. Điều này cho thấy vai trò dẫn dắt của chúng ta chưa phải lúc nào cũng cao.

Liệu “tân” chính phủ VN rồi đây có thực sự thúc đẩy tầm nhìn FOIP? Và có xem xét lại triết lý quốc phòng “bốn không một nếu”? Về trụ cột kinh tế, câu trả lời có thể là “yes”. Diễn đàn Doanh nghiệp Ấn Thái Dương thường niên lần thứ 3 (IPBF-3) đã diễn ra tại Hà Nội năm ngoái là minh chứng rõ ràng. Nhưng về trụ cột an ninh, nhất là trong chiều kích “ngăn chặn” Trung Quốc, câu trả lời nhiều khả năng sẽ là “not yet”. Trong khi đó “Bộ tứ” khuyến khích VN nên sớm trở thành thành viên “theo sát” của FOIP (shadow member).

Điều đáng nói là, giữa các trụ cột của FOIP, ranh giới không phải lúc nào cũng rạch ròi. Mùa hè vừa qua, Ngoại trưởng Mike Pompeo đã tuyên bố Mỹ đang thúc đẩy xây dựng một “Mạng lưới thịnh vượng kinh tế”, với sự tham gia của Việt Nam. Mạng lưới này được hình thành trên nền tảng “Bộ tứ”, được Washington xem như điểm nhấn quan trọng trong chính sách thương mại thúc đẩy phát triển kinh tế toàn cầu thời hậu COVID-19.

Với tất cả các nan đề vừa điểm xuyết ở trên, câu hỏi ở đây là liệu chính phủ mới ở Việt Nam sẽ phải làm gì, để nền Ngoại giao VN thực sự có thể dẫn dắt, có thể đi đầu trong bối cảnh an ninh khu vực chuyển biến gia tốc, hay lại bị “cuốn theo chiều gió” rồi để thời cuộc dẫn dắt?

* TS. Đinh Hoàng Thắng hiện là Giám đốc Truyền thông Viện PLD – Viện Nghiên cứu các vấn đề về Chính sách, Pháp luật và Phát triển tại Hà Nội.

Powered by Blogger.