Hải Ngoại Ngày Nay


LIÊN KẾT HẢI NGOẠI YỂM TRỢ QUỐC NỘI ĐẤU TRANH

GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI VIỆT CỘNG

GIẢi TRỪ HIỂM HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG

Phiếm luận về danh xưng với học vị, học hàm

Wednesday, January 16, 2019 // ,

                                   Image result for ông tiến sĩ












Thời Báo Kinh tế Sài Gòn Xuân Đinh Dậu (2017)
Khi mới từ nước ngoài trở về Việt Nam, không ít người có cảm giác lạ lẫm khi đọc báo thấy những trí thức khoa bảng luôn được kèm theo danh hiệu Giáo Sư (GS), Phó Giáo Sư (PGS), Tiến Sĩ (TS), và nhất là khi những danh hiệu này đi kèm nhau: GS TS, PGS TS.[1]  Thậm chí, nhiều bạn đã có tiến sĩ, là giáo sư ở nước ngoài, cảm thấy ngượng ngùng, bối rối khi “được” gọi như vậy trên các phương tiện truyển thông đại chúng, không liên hệ gì đến học thuật, ở Việt Nam.  Hơi ngượng, khá bối rối, nhưng rồi lại không dám yêu cầu báo chí không gọi là tiến sĩ vì như thế lại e bị hiểu lầm là lập dị, là “kênh kiệu ngược” (reverse snobbery)
Thực ra, so với vô số đại sự của quốc gia thì chuyện danh xưng này quả là “nhỏ như con thỏ”, nhưng nhân dịp Tết nhứt, xin có đôi dòng phiếm luận để giải khuây cho bạn đọc.
Bằng tiến sĩ chứng tỏ điều gì và để làm gì?[2]
Ai đã lấy PhD ở Mỹ đều biết rằng bằng cấp này chỉ là một cái vé vào cửa để được phỏng vấn khi đi xin việc ở các đại học, các viện nghiên cứu ở nước ngoài. Thế thôi. Theo nhà kinh tế nổi tiếng Michael Spence (Nobel 2001) thì bằng cấp (do một đại học có uy tín cấp) cốt yếu là một tờ giấy chứng nhận cho những người không có cách nào khác để chứng tỏ khả năng (trong đó có sự kiên trì) của mình.  Spence giải thích: Một người có thực tài, ai nhìn cũng thấy ngay, thì không cần bằng cấp khi đi xin việc!  Nói theo thuật ngữ kinh tế: Bằng cấp là một “tín hiệu cho thị trường”.
Tiến sĩ là một bằng cấp tối hậu (terminal degree) của hệ thống giáo dục hiện đại, nhưng nó chỉ là một (trong nhiều) chỉ dấu của trí thức. Và ngay khi là chỉ dấu như thế, nó cũng không là chỉ đấu tột bực. Ở các nước có một nền học thuật lâu đời, bằng tiến sĩ chỉ là một tấm vé để bước chân vào ngưỡng cửa của cộng đồng nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học. Nó không phải là “vinh quang” tối hậu của một sự nghiệp học thuật.  Uy tín của một nhà nghiên cứu, của một giáo sư tùy thuộc hoàn toàn vào những thành tựu của người ấy sau khi đã có tiến sĩ (Einstein, chẳng hạn, không cần ai gọi mình là GS TS!). Thậm chí, một nhà khoa học xuất chúng, dù không có bằng tiến sĩ vẫn được xã hội nễ trọng hơn những người có tiến sĩ, nếu người ấy có một sự nghiệp học thuật tầm vóc.
Đi đâu cũng tự xưng, hay đòi người khác gọi mình là Giáo Sư Tiến Sĩ (dù là giáo sư tiến sĩ thật, không phải dỏm), không chỉ là làm dáng, phô trương, nhưng còn cho mình một cảm giác (thường) sai lầm về những thành tụu thật sự của bản thân, rằng mình hiện đã đạt đến tột đỉnh của học thuật, và khó tránh khỏi sự tự mãn đầy kiêu căng. Không gì “phản trí thức” hơn phong thái ấy.
Tự xưng và gọi nhau là GS TS thì có hại gì?
Nhiều người sẽ bảo, dù các cơ quan truyền thông có tâng bốc các giáo sư tiến sĩ, không bao giờ quên kèm theo học vị học hàm khi viết tên họ, thì có hại gì ai? Sao không xem đó như phản ảnh sự kính trọng “kẻ sĩ” của văn hóa Việt Nam? Vâng, nhìn từ một góc cạnh nhỏ hẹp thì quả việc này là không đáng kể so với những vấn đề trọng đại của đất nước.  Tuy nhiên, nó có thể liên hệ đến những hiện tượng khác làm suy giảm chất lượng đòi sống của chúng ta. Chẳng hạn như:
Bằng cách tung hô danh xưng GS, PGS, TS… các cơ quan truyền thông vô tình đơn điệu hóa thang trí thức học thuật, và từ đó, đến giá trị xã hội.  Bởi, như đã nói, những học hàm, học vị này là chức vụ trong lãnh vực giáo dục, là một chỉ dấu của khả năng nghiên cứu.  Chúng không nhất thiết có hàm ý nào về giá trị toàn diện của con người (mà phần chính, hiển nhiên, là đạo đức).  Gắn kết học vị học hàm, mà không một đặc điểm nào khác, với danh tính một người là mặc nhiên đưa nó lên vị trí hàng đầu.  Nói thẳng ra, theo ý người viết bài này, chính “thói quen” này của giới truyền thông đã giúp duy trì nạn “sính bằng cấp” trong xã hội Việt Nam.
Nạn sính bằng cấp, từ đó, sẽ có hậu quả dễ hiểu đến chất lượng tiến sĩ: Khi mà sự ham muốn bằng cấp không thể được thỏa mãn vì khả năng học tập và nghiên cứu của “đương sự” là “có hạn” thì tất nhiên sẽ sinh ra những tiến sĩ dỏm, những luận văn không đáng được gọi là luận văn. Báo chí đừng gọi họ là tiến sĩ nữa thì chất lượng tiến sĩ sẽ khá lên, vì lúc ấy chỉ những người thật sự có năng lực, có trí tuệ, đam mê nghiên cứu, giảng dạy… mới bỏ công dùi mài kinh sách trong một chương trình tiến sĩ, loại bỏ những “phần tử” “sinh ra không phải để theo đuổi học thuật” (mà trong một xã hội bình thường là hoàn toàn bình thường, không có gì để mặc cảm), chạy chọt lấy “tiến sĩ’ chỉ vì hám danh.  Gạn lọc những phần tử “không thích hợp” này thì chất lượng tiền sĩ đương nhiên sẽ khá lên!
“Giải pháp”
Báo chí vô tình cũng là tòng phạm trong hiện tượng này.  Vì thói quen, hay để “tâng bốc” đương sự, báo chí ít khi quên gọi một giáo sư tiến sĩ là GS/PGS TS.  Bởi vậy, tôi nghĩ, các giáo sư tiến sĩ khi được phòng vấn, hãy nói thẳng với phóng viên là không cần để là GS TS trước tên ông/bà.
Song, phải nhìn nhận, đây là một tập quán khó thay đổi.  Nếu một cá nhân muốn như thế và yêu cầu người phỏng vấn mình làm như thế thì cũng chưa chắc nhà báo sẽ nghe theo, vì nhà báo cũng muốn được hãnh diện là họ phỏng vấn một vị “giáo sư, tiến sĩ” chứ không phải “thường dân”!
Vậy, có vài đề nghị:
(1) Nếu người ấy có hiện giữ một chức vụ khác (Bộ trưởng, Chủ tịch…) thì chỉ nên dùng những chức vụ hiện tại, không cần phải thêm là GS TS gì cả.
(2) GS, hoặc TS là đủ, không cần gọi cả hai (GS TS).  Ở các quốc gia có những danh hiệu này lâu đời, hầu hết giáo sư đều có tiến sĩ, gọi GS TS là thừa.  Nên để ý rằng tiến sĩ có thể không là giáo sư (chẳng hạn như những nhà khoa học làm việc trong các viện nghiên cứu)
(3) Chỉ tự xưng là giáo sư hay tiến sĩ trong những hoàn cảnh mà danh hiệu ấy chuyển tải một thông tin có ich cho người đọc/nghe, và nếu người đối thoại không biết thông tin ấy.[3]  Theo tôi, chỉ nên gọi giáo sư (hoặc tiến sĩ, không cần cả hai) trong khuôn viên đại học, viện nghiên cứu, hoặc trong các hội nghị, hội thảo khoa hoc.
Tôn vinh những người có đạo đức, thực tâm, thực tài là một điều xã hội nên làm.  Nhưng để tôn vinh những người xứng đáng, và với sự trân quý thật lòng, xã hội không nên dừng lại ở danh hiệu tiến sĩ mà phải chịu khó tìm biết xem người ấy có những công trình nghiên cứu, những đóng góp khoa học nào, dạy ở trường nào, bao nhiêu năm… và thể hiện sự nễ trọng (nếu thấy họ xứng đáng) bằng cách nghiêm túc lắng nghe ý kiến của họ, đọc những gì họ viết.   Dù rằng việc kiểm chứng ấy sẽ không dễ đối với đa số không quen thuộc với môi trường học thuật (nhưng lắm khi Google vài phút là biết ngay!), song đó cũng là một cách nâng cao kiến thức của mọi người.  Một trí thức đích thực sẽ vô cùng cảm kích khi đối thoại với một người quan tâm đến nghiên cứu của mình, được nghe những câu hỏi phản ảnh một sự hiểu biết về công việc và những thành tựu của trí thức ấy.  Đó là cách tốt nhất để tôn vinh “tiến sĩ”!
Trần Hữu Dũng


[1] Nhiều quốc gia khác, như Nga, Đức, cũng có phong tục này, nhưng tôi không biết nhiều về bối cảnh xã hội và truyền thống lịch sử của họ nên chỉ xin nói v trường hợp Việt Nam.  Đèn nhà ai nấy sáng!
[2] Xin nói rõ, đây là nói về bằng tiến sĩ “thật”.  Dường như vấn nạn tiến sĩ dỏm, tiến sĩ kém chất lượng, cũng rất trầm trọng ở Việt Nam, nhưng đó là một vấn đề khác.
[3] Ví dụ,  nếu trên máy bay có một hành khách ngả bệnh, và nếu bạn là bác sĩ, thì bạn có quyền (đúng ra là bổn phận!) hô lớn: Tôi là bác sĩ!  Nhưng bạn không cần phô trương học hàm học vị của bạn với người bán cà phê chẳng hạn!

“Vành đai, con đường” của Trung Quốc “biến tướng” thành tham vọng quân sự ở Pakistan – Theo New York Times

“Vành đai, con đường” của Trung Quốc “biến tướng” thành tham vọng quân sự ở Pakistan – Theo New York Times

Cảng Gwadar, công trình nằm trong dự án “Vành đai, con đường” của Trung Quốc tại Pakistan (Ảnh: Reuters)
20/12/2018
Trung Quốc được cho là đang đổ tiền vào các dự án xây dựng, chế tạo quân sự trên lãnh thổ Pakistan dưới danh nghĩa sáng kiến thương mại “Vành đai, con đường”.
Khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố ngừng hàng tỷ USD hỗ trợ an ninh cho Pakistan hồi đầu năm, một giả thuyết đã được đưa ra là quân đội Pakistan sẽ trở nên quan ngại khi hợp tác với các đồng minh khác của Mỹ. Trên thực tế, Pakistan dường như đã có nhà tài trợ thay thế.
Chỉ 2 tuần sau tuyên bố của ông Trump, không quân Pakistan và các quan chức Trung Quốc dường như đã thảo luận những đề nghị cuối cùng trong bản kế hoạch bí mật nhằm mở rộng kho máy bay, vũ khí và các thiết bị khác của Pakistan. Theo New York Times, kế hoạch này cũng giúp cho quan hệ giữa Trung Quốc và Pakistan bền chặt hơn trong lĩnh vực không gian, khu vực mà Lầu Năm Góc gần đây cảnh báo rằng Trung Quốc đang cố gắng quân sự hóa.
Các dự án quân sự trên được cho là đều nằm trong khuôn khổ sáng kiến “Vành đai, con đường”, kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng trị giá 1.000 tỷ USD của Trung Quốc tới hơn 70 quốc gia trên thế giới. New York Times cho biết Bộ Kế hoạch và Phát triển Pakistan đã xác nhận thông tin trên.
Giới chức Trung Quốc từ lâu nay luôn khẳng định “Vành đai, con đường” đơn thuần chỉ là một sáng kiến về kinh tế và thương mại với mục đích hòa bình. Tuy nhiên, sau khi thông tin về kế hoạch ở Pakistan được công bố, có thể thấy Trung Quốc dường như đang sử dụng các dự án kinh tế nhằm phục vụ cho tham vọng quân sự của họ, theo New York Times.
Kể từ khi sáng kiến của Trung Quốc bắt đầu được thực hiện vào năm 2013, Pakistan đã là quốc gia có sự ủng hộ to lớn với người láng giềng. Họ ký với Bắc Kinh dự án Hành lang Kinh tế Trung Quốc-Pakistan (CPEC) với kế hoạch xây dựng các công trình trị giá lên tới 62 tỷ USD. Trong bối cảnh Pakistan đang rơi vào khủng hoảng kinh tế, Trung Quốc liên tục hào phóng đổ tiền, động thái giúp 2 quốc gia xích lại gần nhau hơn.
Ngay trước khi dự án tỷ USD được giới thiệu, Trung Quốc dường như đã xây những công trình ở Pakistan nhằm phục vụ mục đích riêng của họ. Đơn cử như cảng biến Bắc Kinh xây dựng tại thị trấn Gwadar. Đây là dự án giúp cho Trung Quốc rút ngắn quãng đường giao thương với tàu bè từ biển Ả rập. Mặt khác, cảng này cũng được coi là “lá bài” địa chiến lược mà Bắc Kinh có thể dùng để kiềm chế Ấn Độ và Mỹ trong trường hợp căng thẳng leo thang.
Một công trình nằm trong dự án Vành đai, con đường của Trung Quốc ở Pakistan (Ảnh: Bloomberg)
Một công trình nằm trong dự án “Vành đai, con đường” của Trung Quốc ở Pakistan (Ảnh: Bloomberg)
Trên thực tế, trong những năm qua, Bắc Kinh đã đẩy mạnh việc xây dựng các cảng biển ở khu vực xung quanh Ấn Độ Dương như Sri Lanka, Bangladesh và Malaysia. Trung Quốc từng khẳng định những cảng này thuần túy là để phục vụ mục đích thương mại và sẽ không bị quân sự hóa.
Sau đó, vì nợ nần chồng chất, Sri Lanka buộc phải cho Trung Quốc thuê cảng chiến lược Hambantota với thời hạn 99 năm để đổi lấy tiền trả nợ. Ấn Độ và Mỹ đã không ít lần quan ngại về việc Trung Quốc có thể âm thầm quân sự hóa cảng này.
Hồi tháng 10, Phó Tổng thống Mỹ Mike Pence cảnh báo Sri Lanka đang là nạn nhân của “ngoại giao bẫy nợ” với Trung Quốc, ám chỉ rằng Bắc Kinh dùng tiền để mua tầm ảnh hưởng tại quốc gia này. Ông Pence nói rằng Trung Quốc thường đầu tư vào những dự án xây cảng mà không rõ ràng về lợi ích thương mại thu được là vì họ có mục tiêu khác lớn hơn.
Thời điểm Trung Quốc bắt đầu dự án “Vành đai, con đường”, Pakistan đang trong tình trạng khó khăn. Họ không thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài do các cuộc tấn công khủng bố và nạn tham nhũng. Trong khi đó, họ lại đang rất cần tiền để xây mạng lưới điện và các công trình khác.
Thông qua dự án CPEC, Trung Quốc đồng ý với các đề xuất mà Pakistan đưa ra một cách hào phóng. Tuy nhiên, sau một vài năm, Pakistan đã nợ Trung Quốc khoản tiền hàng chục tỷ USD và họ dường như khó có thể Bắc Kinh khi thời hạn cho khoản thanh toán đầu tiên đang tới gần. Giới quan sát lo ngại kịch bản Sri Lanka có thể sẽ lại lặp lại thêm một lần nữa với Pakistan.
Dù quan hệ giữa Trung Quốc và Pakistan vẫn đang khá tốt tuy nhiên các chuyên gia cảnh báo rằng CPEC vẫn có thể bị gián đoạn khi có sự thay đổi chính trị ở Pakistan. Sự việc tương tự đã xảy ra ở Malaysia khi tân Thủ tướng Mahathir Mohamad lên nắm quyền. Ông Mahathir đã cho dừng các dự án hàng chục tỷ USD do quan ngại rằng các dự án này có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho Kualar Lumpur.
Sau chiến thắng của Thủ tướng Imran Khan hồi giữa năm, Pakistan cũng thông báo họ sẽ dừng các dự án CPEC để đánh giá lại hiệu quả và lợi ích mang lại cho Pakistan. Động thái này đã khiến Trung Quốc phật lòng.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, quan hệ giữa Trung Quốc và quân đội Pakistan khá tốt. Sau khi Pakistan thông báo dừng các dự án thuộc CPEC, Tổng tư lệnh Quân đội Pakistan Qamar Javed Bajwa được cho là đã tức tốc tới Bắc Kinh để gặp kín Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Chuyến thăm của vị tướng này được cho là còn diễn ra trước cả chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông Khan sau khi nhậm chức.
Đức Hoàng  Theo New York Times

Pakistan dừng dự án nhà máy điện 2 tỷ USD với Trung Quốc – Theo SCMP

sub-categories

Pakistan dừng dự án nhà máy điện 2 tỷ USD với Trung Quốc – Theo SCMP
16/01/2019

Pakistan đã đề nghị Trung Quốc dừng dự án nhà máy điện chung trị giá 2 tỷ USD trong bối cảnh chính quyền Islamabad đang đánh giá lại các dự án bị cho là đắt đỏ và không cần thiết của Bắc Kinh.

Pakistan dừng dự án nhà máy điện 2 tỷ USD với Trung Quốc - Ảnh 1.
Cảng Gwadar tại Pakistan. (Ảnh: Reuters)
Pakistan đã chính thức đề nghị Trung Quốc dừng dự án nhà máy điện chung giữa hai nước trị giá 2 tỷ USD trong khuôn khổ Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Pakistan (CPEC) trị giá 62 tỷ USD. Lý do Pakistan đưa ra cho quyết định của mình là vì dự án này quá đắt đỏ và không được xem là ưu tiên cấp bách của nước này.
Theo một nguồn tin chính phủ giấu tên, đề xuất hủy dự án được đưa ra khi Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Phát triển Pakistan Makhdoom Khusro Bakhtyar có chuyến đi tới Bắc Kinh vào tháng 12 năm ngoái để tham dự một cuộc họp về CPEC.
“Chính phủ (Pakistan) đang đánh giá lại một số dự án của Trung Quốc, những dự án tốn kém hơn và chưa thực sự cần thiết ở thời điểm hiện tại, để tiết kiệm ngân sách. Chúng tôi phải tập trung vào các ưu tiên của mình, bao gồm việc phát triển cảng Gwadar và tuyến đường phía tây của CPEC nối khu vực nội địa của Baluchistan và các tỉnh Khyber-Pakhtunkhwa”, quan chức Pakistan cho biết.
Bộ trưởng Bakhtyar chưa đưa ra bình luận về vấn đề này. Hồi tháng 9/2018, ông Bakhtyar từng tiết lộ ý định của chính phủ Pakistan về việc từ bỏ các dự án năng lượng nhập khẩu than, bao gồm nhà máy điện Rahim Yar Khan tại tỉnh Punjab. Đại sứ Trung Quốc tại Pakistan Yao Jing sau đó nói rằng Bắc Kinh luôn cởi mở với những thay đổi do chính quyền mới của Pakistan đề xuất.
“Chúng tôi chắc chắn sẽ đi theo chương trình nghị sự của họ”, Đại sứ Yao Jing nói.
Phó trưởng phái đoàn ngoại giao Trung Quốc tại Islamabad Lijian Zhao ngày 15/1 cho biết quyết định “hủy bỏ” dự án nhà máy điện được chính quyền tiền nhiệm tại Pakistan đưa ra từ lâu. Trong khi đó Bộ trưởng Tài chính Pakistan Asad Umar chia sẻ với các phóng viên rằng: “CPEC hiện chuyển từ giai đoạn phát triển năng lượng và cơ sở hạ tầng sang các ngành công nghiệp và thương mại”.
Nếu được triển khai, dự án nhà máy điện trong khuôn khổ CPEC sẽ bổ sung thêm 1.320 megawatt vào lưới điện quốc gia Pakistan nhằm giải quyết tình trạng thiếu điện tại nước này. Các quan chức trong chính quyền cựu Thủ tướng Nawaz Sharif tiền nhiệm từng cố gắng tìm cách hủy dự án này do lo ngại chi phí quá cao, tuy nhiên các quan chức Trung Quốc đã bảo vệ thành công dự án.
Pakistan dừng dự án nhà máy điện 2 tỷ USD với Trung Quốc - Ảnh 2.
Thủ tướng Pakistan Imran Khan. (Ảnh: Bloomberg)
Kể từ khi lên nắm quyền vào tháng 8 năm ngoái, chính phủ của Thủ tướng Imran Khan đã tìm cách thu hẹp quy mô của CPEC vì cho rằng Pakistan không đủ khả năng để chi trả tất cả các dự án. Ông Khan cũng kêu gọi Pakistan tập trung nhiều hơn vào việc mở rộng ngành nông nghiệp và tạo việc làm cho giới trẻ.
Ra đời từ 5 năm trước, Hành lang Kinh tế Trung Quốc – Pakistan là một phần trong Sáng kiến Vành đai và Con đường – kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng trị giá 1.000 tỷ USD của Bắc Kinh tới hơn 70 quốc gia trên thế giới. CPEC được thiết kế để kết nối khu vực cực tây Tân Cương của Trung Quốc với cảng Gwadar tại Pakistan thông qua mạng lưới đường cao tốc, đường tàu, đường ống dẫn khí và các trung tâm thương mại. Hành lang CPEC dự kiến hoàn tất trước năm 2030, mở ra cho Trung Quốc một tuyến đường thương mại quan trọng tới Trung Đông và châu Phi.
Tháng 12/2018, New York Times đưa tin báo này biết được một kế hoạch bí mật về các dự án quân sự của Trung Quốc tại Pakistan. Theo đó, một đặc khu kinh tế thuộc CPEC sẽ được thiết lập để chế tạo máy bay chiến đấu, trong khi các khí tài quân sự khác sẽ được sản xuất tại các nhà máy ở Pakistan. Ông Lijian Zhao đã bác bỏ thông tin này, khẳng định CPEC chỉ đơn thuần là hành lang kinh tế. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng phủ nhận thông tin do New York Times đưa ra.
Thành Đạt Theo SCMP

Powered by Blogger.