Hải Ngoại Ngày Nay


LIÊN KẾT HẢI NGOẠI YỂM TRỢ QUỐC NỘI ĐẤU TRANH

GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI VIỆT CỘNG

GIẢi TRỪ HIỂM HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG

Tin Biển Đông – 26/07/2020

Sunday, July 26, 2020 // ,
Tin Biển Đông – 26/07/2020

TQ diễn tập bắn đạn thật ‘hỏa lực mạnh’ ở Biển Đông

Máy bay chiến đấu J15 của Trung Quốc trong một cuộc tập trận trên biển năm 2018
Quân đội Trung Quốc đang tiến hành tập trận bắn đạn thật ở khu vực gần Bán Đảo Lôi Châu, thuộc tỉnh Quảng Đông, nơi gần sát với Đảo Hải Nam, truyền thông nước này tường thuật.
Cuộc tập trận diễn ra tại vùng cửa ngõ đi vào Biển Đông bắt đầu từ hôm thứ Bảy, giữa lúc căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Trung đang gia tăng liên quan tới nhiều vấn đề, trong đó có chủ đề tranh chấp Biển Đông và Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan.
Kênh truyền hình Hoàn Cầu (CGTN) thuộc truyền hình quốc gia Trung Quốc hôm 25/7 đăng một đoạn video với nội dung nói các chiến đấu cơ thuộc một lữ đoàn không quân trong Lực lượng Hải quân của Bộ Tư lệnh Tác chiến Miền Nam bắn đạn thật xuống mục tiêu trên biển.
Bản tin của Hoàn Cầu Thời báo dẫn lời một chuyên gia quân sự Trung Quốc, nói việc tập trận nhiều khả năng sẽ gồm các hoạt động không-đối-hạm và không-đối-không của các chiến đấu cơ quân đội Trung Quốc.
Chuyên gia này cũng hy vọng rằng đây sẽ là lần tập trận chung với sự tham gia của các binh chủng khác nhau, trong đó có Hải quân và Pháo binh, với việc sử dụng hệ thống phòng không bằng tên lửa đạn đạo của Trung Quốc.
Tin cho hay lần tập trận này sẽ diễn ra trong hai giai đoạn.
Giai đoạn một sẽ từ thứ Bảy đến thứ Hai, tại một vùng biển rộng lớn hình chữ nhật ngoài khơi Bán đảo Lôi Châu. Giai đoạn hai từ thứ Ba cho tới ngày 2/8 ở khu vực nhỏ hơn, hình tròn với bán kính 8km, nằm bên trong vùng biển đó, theo thông báo của quân đội Trung Quốc.
Đạn thật với hỏa lực mạnh sẽ được bắn ra, và dân chúng được yêu cầu không đi vào vùng biển này trong thời gian diễn tập.
Trung Quốc gần đây đã liên tiếp có các cuộc tập trận ở Biển Đông, gồm đợt thao diễn bắn đạn thật của máy bay ném bom thuộc Hải quân của Bộ Tư lệnh Tác chiến Miền Nam Quân Giải phóng Trung Quốc, máy bay ném bom diễn tập tuần tra ban đêm trên biển trong các ngày 20-22/7, và máy bay chống tàu ngầm diễn tập hồi đầu tháng Bảy, Hoàn Cầu Thời báo trích dẫn các thông cáo báo chí của quân đội Trung Quốc nói.
Cuộc tập trận mới nhất diễn ra vào lúc quân đội Mỹ có những hoạt động mạnh mẽ ở Biển Đông.
Hoa Kỳ hồi đầu tháng đã triển khai hai hàng không mẫu hạm cùng các đội tàu hộ tống, tàu chiến tiến vào Biển Đông, và gửi máy bay do thám vào khu vực.
Tuần trước, lần đầu tiên Washington bác bỏ các đòi hỏi trên biển của Trung Quốc đối với Biển Đông, nơi mà nhiều nước khác trong khu vực, trong đó có Việt Nam, cũng tuyên bố chủ quyền.

Australia “mạnh mẽ nhất

từ trước đến nay” với TQ ở Biển Đông

Trong một động thái mạnh mẽ nhất từ trước đến nay, Australia vừa gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc phản đối các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông.
Quan điểm của Australia được cho là mạnh mẽ và rõ ràng hơn quan điểm mà Mỹ đưa ra trước đó. Dưới đây là bản lược dịch của văn kiện này.
Australia phản đối bất kỳ yêu sách nào của Trung Quốc không phù hợp với Công ước của LHQ về Luật biển 1982 (UNCLOS), đặc biệt là các yêu sách biển không tuân thủ các quy định của UNCLOS về đường cơ sở, vùng biển và phân loại các thực thể.
Australia phản đối các yêu sách của Trung Quốc về “quyền lịch sử” hoặc là “quyền và lợi ích biển” được thiết lập thông qua (cái gọi là) “thực tiễn lịch sử lâu dài” ở Biển Đông. Tòa trọng tài trong Phán quyết về Vụ kiện Biển Đông năm 2016 khẳng định, các yêu sách này không phù hợp với UNCLOS và trong phạm vi đó, nó không có giá trị.
Không có cơ sở pháp lý cho việc Trung Quốc vẽ đường cơ sở thẳng nối các điểm ngoài cùng của các thực thể hoặc nhóm đảo ở Biển Đông, bao gồm “Tứ Sa” hoặc “lục địa” hoặc “các quần đảo xa bờ”. Australia bác bỏ yêu sách đối với vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa dựa trên các đường cơ sở thẳng này. Chính phủ Australia lưu ý các quốc gia chỉ có thể vẽ đường cơ sở thẳng trong một số trường hợp nhất định.
Về cơ bản, Điều 7, khoản 1 UNCLOS quy định việc sử dụng đường cơ sở thẳng chỉ có thể được áp dụng ở các địa phương nơi bờ biển bị lõm sâu hoặc bị lấn sâu, hoặc nếu có một chuỗi đảo chạy dọc theo và gần sát bờ biển. Thêm vào đó, Điều 47, khoản 1 của UNCLOS giới hạn việc sử dụng đường cơ sở thẳng quần đảo cho các quốc gia quần đảo, như được định nghĩa trong Điều 46. Trong trường hợp không đáp ứng được các yêu cầu này, các quốc gia phải vẽ đường cơ sở bình thường, dựa theo Điều 5, trong đó bao gồm cả các đảo.
Australia cũng phản đối yêu sách của Trung Quốc đối với vùng biển được tạo ra bởi các thực thể chìm hoặc các thực thể nửa chìm, nửa nổi không phù hợp với UNCLOS. Các hoạt động bồi đắp hoặc bất kỳ các hoạt động xây đảo nhân tạo nào không làm thay đổi phân loại của thực thể đó theo quy định của UNCLOS. Không có căn cứ pháp lý để thực thể có thể đòi hỏi nhiều quyền hơn quy định của UNCLOS đối với trạng thái tự nhiên của nó.
Vì lý do này, chính phủ Australia không chấp nhận các thực thể được thay đổi một cách nhân tạo được hưởng quy chế áp dụng cho một hòn đảo theo Điều 121, khoản 1 của UNCLOS. Hơn nữa, Điều 60, khoản 8 của UNCLOS quy định các đảo nhân tạo không được hưởng quy chế đảo. Đảo nhân tạo không có lãnh hải riêng và sự hiện diện của nó không ảnh hưởng đến việc phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa.
Chính phủ Australia không chấp nhận khẳng định của Trung Quốc trong công hàm ngày 17/4/2020 rằng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi (lưu ý các phản đối của Việt Nam (Số 22/HC-2020, Số 24/HC-2020 và Số 25/HC-2020) và của Philippines (số 000192-2020) về vấn đề này. Chính phủ Australia bày tỏ sự quan ngại sâu sắc liên quan đến yêu sách của Trung Quốc đối với việc thực thi chủ quyền “liên tục và thực tế” đối với các thực thể nửa chìm, nửa nổi do chúng không tạo thành một phần của lãnh thổ đất liền của một quốc gia.
Chính phủ Australia cũng phản đối yêu sách của Trung Quốc rằng Trung Quốc không bị ràng buộc bởi phán quyết của Tòa Trọng tài. Lý do mà Trung Quốc đưa ra để giải thích cho việc nước này không tuân thủ phán quyết của Tòa trọng tài không có căn cứ pháp lý. Căn cứ vào Điều 296 và Điều 11 của Phụ lục VII của UNCLOS, quyết định của Tòa trọng tài là cuối cùng và có tính chất ràng buộc với tất cả các bên tranh chấp.
Chính phủ Australia khuyến khích các bên có yêu sách ở Biển Đông, trong đó có Trung Quốc làm rõ các yêu sách biển và giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS.
Chính phủ Australia bảo lưu quan điểm của mình đối với các khía cạnh khác trong các yêu sách của Trung Quốc trong ba công hàm được nêu ở trên.

Bắc Kinh lại đe dọa Canberra

sau khi yêu sách Biển Đông bị Úc thẳng tay bác bỏ

Trọng Nghĩa
Ngay sau khi Úc chính thức gởi công hàm lên Liên Hiệp Quốc – đề ngày 23/07/2020 – bác bỏ mọi yêu sách chủ quyền trên biển của Trung Quốc tại vùng Biển Đông mà không phù hợp với Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, Bắc Kinh ngày 25/07 đã phản ứng gay gắt, và như thông lệ, đã lớn tiếng đe dọa Canberra là sẽ phải gánh chịu những hậu quả nặng nề, nhất là về mặt kinh tế.
Trong một bài bình luận đăng trên trang web của mình, tờ Hoàn Cầu Thời Báo, được cho là cái loa của Bắc Kinh, đã cho rằng nước Úc đã “thiếu khôn ngoan” khi leo lên “con tàu bị thủng” của Mỹ để xen vào vấn đề Biển Đông.
Đối với tờ báo, trong bối cảnh quan hệ giữa Trung Quốc và Úc hiện đang xấu đi đáng kể, nếu Canberra tiếp tục theo sát Washington và “khiêu khích” Bắc Kinh, thì “thiệt hại đối với Úc nên được dự kiến, không chỉ về quan hệ chính trị, mà cả về quan hệ kinh tế”.
Đe dọa cụ thể mà Hoàn Cầu Thời Báo nêu bật thành ví dụ là khả năng đánh vào sản phẩm nông nghiệp nhập từ Úc như thịt bò và rượu vang.
Quan điểm của Úc về Biển Đông mạnh mẽ khác thường
Phải nói là công hàm mà phái đoàn thường trực của Úc gởi lên Liên Hiệp Quốc để bác bỏ các yêu sách của Trung Quốc tại Biển Đông mang tính chất mạnh mẽ khác thường.
Dựa trên phán quyết 2016 của Tòa Trọng Tài Thường Trực La Haye, Úc đã bác bỏ toàn bộ yêu sách của Trung Quốc dựa trên “quyền lịch sử”.
Công hàm của Úc đồng thời dựa trên Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 để phủ nhận giá trị của việc Trung Quốc vẽ đường cơ sở thẳng nối các điểm ngoài cùng của các thực thể hoặc nhóm đảo ở Biển Đông mà Bắc Kinh tự nhận là của họ, rồi dựa theo đó để yêu sách các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Một yếu tố khác được giáo sư Carl Thayer, chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông tại Học Viện Quốc Phòng ghi nhận là Úc còn phủ nhận việc Trung Quốc co rằng yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa “đã được cộng đồng quốc tế công nhận rộng rãi”, viện dẫn các công hàm phản đối từ Việt Nam và Philippines trong thời gian gần đây.

Tin khắp nơi – 26/07/2020

Việt Nam về đâu với thân phận tiểu quốc trên bàn cờ thế cuộc?

VOA - BẠN ĐỌC LÀM BÁO
22/07/2020

Vệ binh Trung Quốc tại Tử Cấm Thành.

Vệ binh Trung Quốc tại Tử Cấm Thành.


Hoàng Hoành Sơn

Trung Quốc (TQ) đang mở ra một mặt trận trận tổng lực và đa diện trên khắp bốn phương, trừ Nga. Dù trong nước có mưa lũ, động đất, thời tiết thất thường: mưa đá, vòi rồng, lũ dâng cao dẫn đến nguy cơ vỡ đập Tam Hiệp, tái bùng phát dịch Vũ Hán; thêm nhiều chỉ trích từ các nước về luật an ninh Hongkong, đàn áp, triệt sản người Duy Ngô Nhĩ. Và nhất là ánh nhìn của thế giới về TQ giờ đây đã khác xưa. Vậy mà quả bong bóng Trung Quốc vẫn chưa vỡ.
Tom Orlik, tác giả của cuốn sách mới xuất bản "China: The Bubble That Never Pops" nhận định sức mạnh của Trung Quốc (TQ) nằm ở 3 điểm sau: nguồn vốn vững mạnh cho hệ thống ngân hàng TQ, sự can thiệp của chính phủ có thể giúp họ mạnh mẽ thêm thay vì yếu đi và lợi thế cạnh tranh đến từ quy mô khủng (1). Sau nhiều phân tích, Tom Orlik thừa nhận: “Đến 1 ngày nào đó cuộc khủng hoảng sẽ trở nên quá lớn để Bắc Kinh có thể kiểm soát. Nhưng đại dịch "trăm năm có một" cũng đã không thể chọc vỡ quả bong bóng này thì có lẽ ngày đó vẫn còn rất xa xôi.”(2)
Nếu ngày bong bóng TQ vỡ rất xa xôi thì tình hình Việt Nam (VN) sẽ ra sao?
Trong lúc đó thì Hoa Kỳ, đối thủ chính trị lớn nhất của TQ trên thế giới, đang chật vật trong hai mặt trận chống dịch Vũ Hán và bất ổn chính trị từ sự kiện George Floyd tạo nên. Lòng người chia rẽ, hao tổn nhiều nhân mạng và thiệt hại về kinh tế. Cũng như các cuộc tái đàm phán với các nước đồng minh, Âu Châu và Á Châu, làm cho các đồng minh của Hoa Kỳ ít nhiều bất mãn. Nhưng Hoa Kỳ vẫn đang bảo toàn được sức mạnh trên trường quốc tế.
Vấn đề ở đây là VN sẽ phải có đồng minh thân cận để nương tựa, và cộng sản VN đã chọn một đồng minh gần, dẫu có nhiều nguy cơ tiềm ẩn. Tại sao VN không chọn Hoa Kỳ hay một nước nào đó? Lý do vì nước xa không cứu được lửa gần, khi mà thằng hàng xóm cơ bắp ngày đêm lăm le bắt nạt, thì thôi đành chọn làm đàn em nó, còn hơn đi chơi với mấy anh cơ bắp xóm bên, lỡ có mâu thuẫn, đợi anh xóm bên đến cứu thì mình cũng đã tang thương, bầm dập hết mình mẩy rồi.
Đó chính là thân phận của các quốc gia nhỏ yếu, thiếu sức cạnh tranh trong các mặt trận kinh tế hay đối kháng. Trên thế giới, VN xếp thứ 65 về tổng diện tích (3), và thứ 15 về dân số (4). Tuy nhiên, nếu xét về mặt chính trị, kinh tế, quân sự và văn hóa thì VN chỉ là một quốc gia đang phát triển, cần gia tăng các chỉ số phát triển về mọi mặt. Vì thế, VN vẫn là một quyền lực nhỏ.
Điều đang nói ở đây là VN có vị trí địa lý núi liền núi, sông liền sông với TQ, một cường quốc đang khao khát thống lĩnh thế giới và họ không hề dấu diếm lòng tự tôn dân tộc của mình. Chơi với TQ, VN đã chịu ngậm bồ hòn làm ngọt để TQ vẽ đường lưỡi bò, cấm đánh bắt cá, húc chìm tàu thuyền ngư dân. Thậm chí VN cũng âm thầm xếp lại các dự án dầu khí dù nó nằm trên thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế nước mình.
Nhưng chưa dừng lại ở đó, VN còn phải dan díu vào Sáng kiến Vành đai Con đường của TQ, tự biến mình thành các điểm tập kết hay sản xuất hàng hóa. Biến các cảng biển chiến lược quan trọng thành tư hữu của TQ. Các đặc khu kinh tế đã mở toang cánh cửa vào VN. Khi dân TQ qua lại VN không cần visa, thì người VN muốn qua TQ phải dọc dài xếp hàng chờ đợi.
Nói đến đây, chúng ta cần lật lại quyển sách “The Hundred-Year Marathon”, của Micheal Pillsbury. Trong đó, tác giả đã cảnh báo thế giới cần chú ý những biện pháp kỹ xảo, trí trá, thâm hiểm của dàn lãnh đạo TQ. Họ đang âm mưu những chiến lược bí mật giúp TQ tuần tự nhi tiến và dần thay thế vị trí siêu cường của Hoa Kỳ.
Nói thế để nhấn mạnh đến cán cân quyền lực trên thế giới vẫn chưa đến mức có nước sẽ sụp đổ như cuối thời Chiến Tranh Lạnh. Thế cuộc vẫn chưa ngã ngũ, và VN vẫn chưa biết sẽ đi về đâu. Những gì đang diễn ra tại VN cho thấy chơi với bạn 16 vàng 4 tốt chỉ có mất chứ chưa được lợi bao nhiêu. VN tựa con tốt mà khi cần TQ sẽ mang ra thí mạng, chứ VN không được quý chuộng như các quân cờ vai vế khác.
Trong tình huống hiện tại, VN nên làm gì? Hiển nhiên là nương tựa vào ai cũng đều ngu cả. Cụ Phan Châu Trinh, trong bài viết Hiện Trạng Vấn Đề, Đăng cổ Tùng báo 1907, nói rằng: “Không trông người nước ngoài, trông người nước ngoài tất ngu!” Vấn đề ở đây không phải là nhất thiết phải ngả theo cường quốc nào, mà chính là cần gợi lên lòng tự trọng dân tộc: tự lực tự cường để trước hết là đứng trên đôi chân của chính mình. Không có kiểu lép vế, thần phục hay chịu lệ thuộc để rồi câm lặng không dám hó hé, mặc cho mất biển, mất đảo, mất luôn các đặc khu kinh tế vào tay TQ để gán nợ.
Tình trạng VN chơi vơi giữa sóng ba đào hiện nay chính là do thái độ nhu nhược, thiếu minh bạch và nhất quán trong đường lối ứng xử, kể cả chiến lược chủ đạo trong nội bộ lẫn ngoại giao của CSVN. Cái tinh thần khiếp nhược, chực chờ gió chiều nào ngả theo chiều ấy, hay mặc ai xâu xé chủ quyền nước nhà. Nó không phải là thái độ của những người làm chính trị chân chính. Họ không hề có tính cách của lãnh đạo quốc gia. Đó chỉ là trò đu dây trẻ con, vốn là thói quen lâu ngày thành quen thói, mà trước đây VN sử dụng, đu đưa giữa Liên Xô và TQ. Giờ tái diễn cho thấy bệnh cũ của VN đã quá nặng không có lối thoát. Cứ quẩn quanh cái trò chơi với ai mà quên mất tu thân, rèn luyện cái tâm, cái khí và cái chí của người dân trong nước.
Chính lối nghĩ nhỏ bé, thiển cận của một số nhà lãnh đạo CSVN trong quá khứ cũng như hiện tại đã góp phần biến VN mãi là một tiểu quốc: đi năn nỉ nhóm này, chạy sau lưng nước nọ, bám theo đuôi liên minh kia. Và rốt cuộc tự biến mình thành con tốt trên bàn cờ mà không biết tương lai mình sẽ đi về đâu.
Ghi chú:
  1. https://www.bloombergquint.com/businessweek/coronavirus-couldn-t-pop-china-s-economic-bubble-what-will
  2. https://www.bloombergquint.com/businessweek/coronavirus-couldn-t-pop-china-s-economic-bubble-what-will

Nhìn lại 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ - Việt Nam

VOA - BẠN ĐỌC LÀM BÁO
14/07/2020


Đại sứ Hoa Kỳ Daniel Kritenbrink nhận khẩu trang từ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn, ngày 16/04/2020. Hình minh họa. Photo US Embassy Vietnam.

Đại sứ Hoa Kỳ Daniel Kritenbrink nhận khẩu trang từ Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn, ngày 16/04/2020. Hình minh họa. Photo US Embassy Vietnam.

Thiện Ý

Ngày 12-7- 2020 là đúng 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam (1995-2020). Bài viết này lần lượt trình bày:
(1) Bối cảnh lịch sử tiền thiết lập quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam.
(2) Thành quả 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam.
(3) Nhận định về ý nghĩa của thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
I - Bối cảnh lịch sử tiền thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam
1 - Thời chiến tranh Quốc-Cộng trong bối cảnh chiến tranh ý thức hệ cộng sản và tư bản toàn cầu (1954-1975)
Như mọi người đã biết, sau Thế chiến II (1939-1945) cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng trước đó, giữa người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia (gọi tắt là Việt Quốc) và ngời Việt Nam mang ý thức hệ cộng sản (gọi tắt là Việt Cộng) đã rơi vào thế gọng kìm của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu, giữa cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.
Sau Hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam, Miền Bắc cộng sản trở thành tiền đồn phe xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô cũ. Miền Nam quốc gia là tiền đồn phe tư bản chủ nghĩa (TBCN) đứng đầu là Hoa Kỳ. Miền Bắc cộng sản làm nhiệm vụ xung kích, nhận chi viện vũ khí, hậu cần của Liên Xô, Trung Quốc và phe Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN), phát động chiến tranh “ngụy dân tộc” dưới ngọn cờ “chống Mỹ cứu nước, giải phóng Miền Nam” để cộng sản hóa cả nước, thực hiện tham vọng cộng sản hóa toàn cầu của cộng sản quốc tế Nga-Tàu. Trong khi Miền Nam quốc gia nhận viện trợ vũ khí, hậu cần của Hoa Kỳ và đồng minh “thế giới tự do”, làm nhiệm vụ ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh do Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) phát động tiến hành.
Cuộc chiến tranh hai phe (XHCN và TBCN) bốn bên (CSBV và công cụ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN); Hoa Kỳ và QGNV) này kéo dài trên 20 năm đã đi đến kết thúc về mặt pháp lý bằng Hiệp định Paris ngày 27-1-1973 về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam. Nhưng hai năm sau, CSBV đã vi phạm trắng trợn Hiệp định này khi dùng bạo lực quân sự xâm chiếm Miền Nam vào ngày 30-4-1975, thống nhất đất nước dưới chế độ cộng sản Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt nam (CHXHCNVN).(*)
Đúng ra, sự vi phạm trắng trợn này của CSBV Hoa Kỳ và đồng minh cũng như những cam kết quốc tế có trách nhiệm ngăn chặn, chế tài,bảo đảm cho việc thực thi các điều khoản của Hiệp Định Paris 1973. Thế nhưng thực tế tất cả đã làm ngơ. Riêng Hoa Kỳ có trách nhiệm chính thì chỉ áp dụng biện pháp trừng phạt duy nhất là tăng cường cấm vận toàn diện, triệt để đối với kẻ vi phạm là CSBV. Cuộc cấm vận này cũng chỉ kéo dài 20 năm sau chiến tranh, Hoa Kỳ đã bãi bỏ cấm vận, quay lại Việt Nam, thiết lập quan hệ ngoại giao với cựu thù năm xưa là CSBV, nay là CHXHCNVN. Từ đối phương trên chiến trường trở thành đối tác làm ăn trên thị trường.
2 - Thời kỳ xây dựng triệt để mô hình xã hội chủ nghĩa thất bại hoàn toàn và vĩnh viễn (1975-1995)
Ngay sau khi kết thúc chiến tranh, một cuộc mít tinh tập trung đông đảo quần chúng nhân dân Miền Nam ở Saigon, trước Dinh Độc lập cũ (nay đổi thành Dinh Thống nhất). Trên khán đài lộ thiên có mặt hầu hết các lãnh tụ hàng đầu đảng và nhà nước CSBV “Việt Nam dân chủ cộng hòa” (như Lê Duẩn,Trường Chinh, Lê Đức Thọ,Phạm Hùng, Phạm văn Đồng, Võ Nguyên Giáp Tôn Đức Thắng …) và các lãnh đạo hàng đầu “Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền Nam” và “chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam”, vốn là công cụ quân sự và chính trị trá hình của CSBV (như Ls.Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Ks.Huỳnh Tấn Phát…). Tổng Bí thư đảng CS lúc đó là Lê Duẩn, trong lời phát biểu đã mạnh miệng khẳng định đại ý rằng “Đảng ta, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đã đánh thắng phát-xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, tên đê quốc sừng sỏ và hung hãn nhất của thời đại; thì đảng ta nhất định sẽ lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong vòng từ 15 đến 20 năm nữa…”. Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn tiên liệu đúng về thời gian 15 đến 20 năm xây dựng XHCN (1975-1995) nhưng đoán sai về kết quả là đã không xây dựng thành công XHCN, mà đã thất bại hoàn toàn và vĩnh viễn vào đúng thời khoảng Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ phải chuyển đổi qua chế độ dân chủ tư bản chủ nghĩa (1989-1991).
Trước thực tế trên, năm 1990 Việt Cộng phải vội làm hòa với Trung Cộng, qua mật nghị Thành Đô, nối lại quan hệ sau hơn 10 năm cắt đứt quan hệ ngoai giao (1979-1990). Từ đó Việt Nam lệ thuộc hoàn toàn Trung Quốc về đối nội cũng như đối ngoại. Do đó, Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách “Mở cửa” theo gương Trung Quốc, mở rộng quan hệ ngoại giao đa phương, đổi mới kinh tế, không đổi mới chính trị theo phương châm lãnh tụ CSTQ Đặng Tiểu Bình, rằng“mèo trắng (TB) hay mèo đen (CS) không quan trọng, miễn là mèo đó bặt được chuột .Và thực tế Trung cộng và Việt cộng đã làm đúng như vậy.
Việt Nam đã tìm cách thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ sau khi đáp ứng 3 điều kiện của Hoa Kỳ: (1) Trao trả hài cốt và tin tức về người Mỹ mất tích gọi tắt là POW/MIA (2) rút quân khỏi Kampuchia. (3) Cải thiện nhân quyền.Đáp lại Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận, thiết lập quan hệ ngoại giao. Từ đó và nhờ đó tạo cơ hội thuận lợi cho chính sách “Mở cửa” của Việt Nam thành công bằng con đường “Kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa” theo gương Trung Quốc. Có điều thực tế tại Việt Nam cũng như Trung Quốc con đường làm ăn “Kinh tế thị trường” đã và đang từng bước “định hương tư bản chủ nghĩa”, chứ không chiều theo ý muốn chủ quan, duy ý chí của đảng và nhà đương quyền Việt Nam.
Như vậy là công cuộc xây dựng XHCN tại Việt Nam đã thất bại hoàn toàn và vĩnh viễn. Thực tế chẳng cần nói ra nguyên nhân thất bại, thì những ai từng sống trong thời kỳ xây dựng XHCN (1975-1995) nay còn sống đã là nhân chứng. Các thế hệ Việt Nam sinh sau có thể biết sự thật, qua xem, đọc các tài liệu khách quan, khác với tài liệu tuyên truyền, chủ quan, một chiều, tô hồng, che dấu sự thật của đảng và nhà cầm quyền CSVN. (**)
II - Thành quả 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam
1 - Thành quả tổng quát trong quan hệ chính trị, ngoại giao
Theo đáng giá từ phía Việt Nam, từ khi chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 12/7/1995, đến nay, quan hệ giữa hai nước đã chuyển đổi từ đối đầu sang đối thoại, trở thành đối tác toàn diện của nhau trong các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, giáo dục, khoa học công nghệ, an ninh quốc phòng… với động lực hợp tác ngày càng được củng cố mạnh mẽ hơn. Các lãnh vực hợp tác ngày càng đa dạng, sâu rộng, thực chất và hiệu quả.
Trong 25 năm qua, lãnh đạo cấp cao hai nước thường xuyên trao đổi các chuyến thăm và tiếp xúc, với các cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau. Cả hai đảng trong Quốc hội Hoa Kỳ đều ủng hộ thúc đẩy quan hệ với Việt Nam.
Đặc biệt, tháng 7/2013, trong chuyến thăm chính thức của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Hoa Kỳ, hai bên xác lập khuôn khổ quan hệ đối tác toàn diện.
Đây là một dấu mốc quan trọng, khẳng định xu thế phát triển tất yếu của quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của quan hệ hai nước trong tương lai.
Tiếp đó, chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tháng 7/2015) đánh dấu một mốc quan trọng mới trong quan hệ giữa hai nước với Tuyên bố chung về Tầm nhìn quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.
Một năm sau đó, tháng 5/2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tới Việt Nam đã tuyên bố dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, xóa bỏ rào cản cuối cùng trong quan hệ song phương, đánh dấu sự bình thường hóa hoàn toàn quan hệ hai nước. Chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tới Việt Nam được đánh giá là đã “thể hiện một bước tiến dài trong tư duy của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ với Việt Nam”.
Đến nhiệm kỳ của Tổng thống Donald Trump, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc trở thành nhà lãnh đạo nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đầu tiên thăm chính thức Hoa Kỳ, sau khi Tổng thống Trump nhậm chức. Ông Donald Trump cũng là Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam hai lần trong một nhiệm kỳ.
Ngược dòng thời gian, tại một buổi lễ đánh dấu kỷ niệm 15 năm bình thường hoá quan hệ ngoại giao Mỹ-Việt năm 2010 (1995-2010), bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã nhắc lại sự kiện phu quân của bà là cựu Tổng thống Bill Clinton 15 năm trước đã bình thường hóa quan hệ ngọai giao với Việt Nam; và đánh giá rằng, những họat động đầu tư của Hoa Kỳ đã góp phần vào sự phát triển nhanh chóng của Việt Nam. Bà cũng tán dương sự mong muốn của đôi bên để vượt qua những xung đột trong quá khứ. Bà Clinton nói:
“35 năm trước, chúng ta đã chấm dứt một cuộc chiến tranh từng gây ra những nỗi thống khổ kinh hoàng cho cả hai nước và nó vẫn còn tồn tại trong ký ức của nhiều người của hai dân tộc. Bất kể nỗi đau đó chúng ta đã dốc toàn lực để xây dựng hòa bình…” và rằng “Hoa Kỳ và Việt Nam giờ đây không ngừng tiến tới, thông qua việc chủ động giao tiếp, hợp tác và đối thoại, ngay cả đối với những vấn đề mà đôi bên còn có những quan điểm khác biệt…”
Cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry từng đánh giá không có hai nước nào như Hoa Kỳ và Việt Nam “nỗ lực hơn, làm được nhiều điều hơn, tốt hơn để đưa họ xích lại gần nhau và thay đổi lịch sử và thay đổi tương lai” (Theo TTXVN).
2 - Thành quả quan hệ trên lãnh vực kinh tế
Theo Việt Nam đánh giá, xuyên suốt 25 năm qua, hai nước đã cùng nhau nỗ lực tăng cường hợp tác trong hầu khắp các lĩnh vực trọng yếu, mà kinh tế đóng vai trò là một trong những trụ cột then chốt. Thành công của hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư trong 25 năm qua được xem là động lực thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển lên tầm mức như hiện nay. Nỗ lực của hai bên nhằm thúc đẩy hơn nữa hợp tác kinh tế-thương mại cân bằng và bền vững được kỳ vọng sẽ tiếp thêm xung lực và tạo nền tảng vững chắc để quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam-Hoa Kỳ phát triển thực chất và hiệu quả, tiếp tục mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước trong tương lai
Năm 2019, Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam chiếm 28,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Năm 2019, Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam chiếm 28,5% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa. Trong ảnh: Công ty Cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG (Thái Nguyên) chuyên sản xuất sản phẩm bao bì, nhựa làm túi nilon, nguyên phụ liệu và sản phẩm may mặc, xuất khẩu sang thị trường Mỹ (Theo TTXVN)
2 - Thành quả về quan hệ quân sự, an ninh quốc phòng
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Pompeo đánh giá “Các bạn biết đấy, trong quá khứ, chúng ta từng là đối thủ trên chiến trường. Nhưng ngày nay, hợp tác là nền tảng trong mối quan hệ an ninh giữa hai nước… Nhân dịp kỷ niệm 25 năm quan hệ đối tác của chúng ta vào năm 2020, chúng tôi tái khẳng định cam kết ủng hộ một Việt Nam vững mạnh và độc lập cũng như một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hòa bình và thịnh vượng.”
Phía Việt Nam ghi nhận, quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ trong thời gian qua đã duy trì và tiến triển trên nhiều lĩnh vực, trong đó có hợp tác về an ninh và quốc phòng.
Việc hợp tác dựa trên cơ sở những thỏa thuận mà hai bên đã đạt được, trong đó có bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng năm 2011, Tuyên bố và Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng năm 2015 và kế hoạch hợp tác quốc phòng 2018 - 2020. Hai bên đã và đang tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương, trong đó có hợp tác an ninh hàng hải và nâng cao năng lực thực thi pháp luật trên biển, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và quốc tế
Hai nước cũng đạt những bước tiến ấn tượng trong hợp tác quốc phòng-an ninh 25 năm qua, đặc biệt là hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh, nâng cao năng lực chấp pháp trên biển…
Việt Nam tiếp tục phối hợp tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh. Hiện hai bên tiếp tục trao đổi đoàn các cấp, duy trì các cơ chế đối thoại song phương và tiếp xúc tại các diễn đàn khu vực.
Hai bên đã thông qua Kế hoạch hành động 3 năm về hợp tác quốc phòng giai đoạn 2018-2021.
Trên bình diện đa phương, hai nước chia sẻ lợi ích chiến lược trong việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và trật tự dựa trên luật lệ tại khu vực châu Á-Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Trong đó có các vấn đề Biển Đông, Mekong, bán đảo Triều Tiên, hay phối hợp tại các diễn đàn ASEAN, Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
Hai nước còn phối hợp trong hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, tăng cường hợp tác đối phó hữu hiệu với các nguy cơ về an ninh khu vực và quốc tế.
Đánh giá về quan hệ hai nước trong hơn hai thập niên qua, ông Michael Miclausis, Giám đốc Nghiên cứu-Thông tin-Ấn phẩm của Đại học Quốc phòng quốc gia và là thành viên cấp cao Viện Nghiên cứu chiến lược quốc gia Hoa Kỳ, nhận định mối quan hệ ngày càng phát triển và nồng ấm.
Theo ông, trong các lĩnh vực hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, có thể nói quan trọng nhất là khía cạnh chiến lược.
Mặc dù hai nước khác nhau về hệ thống chính trị, nhưng cùng chia sẻ nhận thức chung về cân bằng chiến lược trong khu vực cũng như ý thức được rằng hợp tác cùng nhau, hai bên sẽ mạnh mẽ hơn khi phải đối mặt với những thách thức chiến lược chung.
Trong khi đó, ông Gregory Poling, Giám đốc Tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) Hoa Kỳ, đã nhận định, rằng trong hơn hai thập niên qua, hai nước đã cố gắng xây dựng một mối quan hệ kinh tế chặt chẽ từ điểm khởi đầu hầu như không có gì, đồng thời đạt được những bước tiến lớn trong việc giải quyết các di sản chiến tranh và gỡ bỏ lệnh cấm vận buôn bán vũ khí của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.
Đặc biệt, trong mối quan hệ tổng thể đó, hợp tác quốc phòng và an ninh, một trong những lãnh vực nhạy cảm nhất trong quan hệ giữa hai nước, gần đây đã được thúc đẩy mạnh mẽ và là động lực chính của mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ vào thời điểm hiện tại.
Bất chấp vẫn còn bất đồng về một số lĩnh vực khác, Hoa Kỳ và Việt Nam có nhận thức và chia sẻ tầm nhìn chiến lược tương đồng ở khu vực.
Đây là lực đẩy hai nước xích lại gần nhau và hy vọng điều này sẽ tiếp tục duy trì trong tương lai gần. (Theo TTXVN)
III - Nhận định về ý nghĩa thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam
Theo một đảng viên cao cấp của đảng CSVN đã về hưu, nói với tôi ít năm trước khi thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, quan hệ ngoại giao Hoa Kỳ và Việt Nam đã sớm hơn nếu đảng CSVN có cái nhìn khác hơn về sự kết thúc chiến tranh không bình thường, bị động cho cả hai bên Quốc-Cộng, không phải là thắng lợi của phe này (XHCN và Việt cộng) với phe kia (TBCN và Việt quốc), mà chỉ là vì yêu cầu thay đổi thế chiến lược toàn cầu hậu Chiến tranh lạnh của các cường quốc cực mà thôi.
Vì rằng, chỉ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, Hoa Kỳ đã có ba lần bí mật tiếp xúc với Việt cộng tại Pháp vào năm 1977. (Dường như để sớm đi vào quá trình đưa Việt Nam đi vào thế chiến lược toàn cầu mới). Do đó, Việt cộng đã nhất định đòi Hoa Kỳ phải bồi thường chiến tranh như điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ ngọai giao. Cuộc tiếp xúc thứ tư vào năm 1978, trước nguy cơ đe dọa của Trung Quốc, Việt cộng xuống thang bỏ yêu sách đòi bồi thường chiến tranh thì đã trễ. Vì khi đó, Quốc Hội Hoa Kỳ đã ra luật không cho phép hành pháp làm gì thêm nữa với Việt Nam cộng sản, mà thực hiện chính sách cấm vận Việt Nam, để rồi cho đến 20 năm sau mới bãi bỏ và thiết lập quan hệ ngọai giao (1975-1995).
Vì thế, theo nhận định của chúng tôi việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau 20 năm kết thúc chiến tranh đều xuất phát từ nhu cầu thực tế và vì lợi ích riêng cũng như chung của cả hai nước, phù hợp với yêu cầu của thế chiến lược toàn cầu mới của các cường quốc cực.
1. Đối với Việt Nam do thực tế là sự thất bại hoàn toàn và vĩnh viễn công cuộc xây dựng thử nghiệm mô hình XHCN cùng lúc với sự sụp đổ hoàn toàn của Liên Xô và hệ thống XHCN quốc tế. Vì thế để thoát hiểm tồn tại, nên có nhu cầu “Mở cửa” làm ăn với thế giới bên ngoài theo con đường “kinh tế thị trường, định hướng tư bản chủ nghĩa” (dù thực tế vẫn phải che đậy thất bại bằng định thức tuyên truyền lừa mị “Kinh tế thị trường, định hướng XHCN”).
Việc thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ cường quốc tư bản hàng đầu sẽ giúp cho chính sách mở cửa có cơ hội thuận lợi dẫn đến thành công. Thực tế quả là đúng như vậy.Vì sau khi nối lại bang giao, Hoa Kỳ đã đóng vai trò chủ đạo mở đường và là nhân tố có tính quyết định cho sự thành công của “Mở cửa” để Việt Nam phát triển toàn diện có bộ mặt phồn vinh như hôm nay.
2 - Đối với Hoa Kỳ, bên ngoài là vì lợi ích hổ tương của hai nước, bên trong là những ý đồ chiến lược riêng của Hoa Kỳ trong đối sách hậu chiến với các nước nghèo có chế độ độc tài nói chung, độc tài cộng sản Việt Nam nói riêng.
Theo đó, Hoa Kỳ dường như muốn “cải tạo chế độ CSVN” thành công cụ chiến lược mới trong vùng, nhằm bao vây, gián chỉ tham vọng bành trướng bá quyền Trung Quốc. Cải tạo chế độ độc tài CSVN bằng diễn biến hòa bình tịnh tiến, thay vì đối sách “lật đổ, thay thế” mà Hoa Kỳ từng sử dụng trong chiến lược toàn cầu cũ, nơi các nước Hoa Kỳ có ảnh hưởng và lợi ích chiến lược.
Đối sách hậu chiến của Hoa Kỳ với Việt Nam phù hợp với yêu cầu của thế chiến lược toàn cầu mới hậu Chiến tranh Lạnh, nhằm đưa các nước nghèo độc tài đi vào “hòa bình,ổn định” để phát triển và dân chủ hóa. Trên thực tế, đây đã và đang là nỗ lực chung của các nước giầu cũng như nghèo nhằm thiết lập điều đươc gọi là “một nền trật tự kinh tế quốc tế mới” hay là “Một hệ thống kinh tế thế giới mới”.
Trên thực tế, sau 25 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đối sách hậu Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ với Việt Nam đã có hiệu quả trông thấy, ai cũng có thể kiểm chứng được. Việt Nam đã và đang phát triển mọi mặt theo một tốc độ thích hợp. Chế độ độc tài CS cũng đã từng bước bị tiêu vong, được dân chủ hóa một cách hòa bình tịnh tiến “tự diễn biến, tự chuyển hóa để tự chuyển thể” ở cuối quá trình chuyển đổi, theo quy luật duy vật biện chứng “Lượng đổi, chất đổi” như chúng tôi đã lý luận, chứng minh nhiều lần bằng thực tiễn khách quan, qua các bài trình bày trước đây trên diễn đàn này.
Thiện Ý
Houston, ngày 12-7-2020.
(*) (Vì Hiệp Định Paris nơi khoản (b) điều 9 Chương IV quy định “Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam” như sau: “ b) Nhân dân Miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của Miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.”
Khoản (a) điều 11 thì ghi “Ngay sau khi ngưng bắn, hai bên Miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính lẫn nhau để thành lập Hội Ðồng Quốc Gia Hoà Giải và Hoà Hợp Dân Tộc gồm ba thành phần ngang nhau...”.
Điều 15 của chương V Hiệp Ðịnh Paris quy định rất rõ ràng: “Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào... Thời gian thống nhất sẽ do Miền Bắc và Miền Nam thoả thuận...”.
(**) Xin đọc thêm trên diễn đàn này của VOA hay nghe trên You Tube, Facebook “diễn đàn Thiện Ý” - 45 năm Việt cộng xây dựng xã hội chủ nghĩa thành hay bại?- Và Triển vọng tương lai “Định hướng xã hội chủ nghĩa” tại Việt Nam có hay không?

Tổng thống Trump ký sắc lệnh hạ giá thuốc kê toa


REUTERS - VOA
25/07/2020

Tổng thống Donald Trump họp báo về virus corona bùng phát tại Tòa Bạch Ốc ngày 23/7/2020.

 Tổng thống Donald Trump họp báo về virus corona bùng phát tại Tòa Bạch Ốc ngày 23/7/2020.
Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 24/7 ký bốn sắc lệnh hành pháp nhằm giảm chi phí mà người dân Mỹ phải trả cho các loại thuốc kê toa.
Một sắc lệnh trong số đó cho phép nhập khẩu hợp pháp thuốc kê toa có giá rẻ hơn từ các nước như Canada, trong khi một sắc lệnh khác yêu cầu phải chuyển các khoản giảm giá của các hãng dược hiện rơi vào tay các thành phần trung gian sang cho bệnh nhân, ông Trump cho biết.
Sắc lệnh thứ ba nhắm giảm giá insulin và sắc lệnh thứ tư yêu cầu chương trình bảo hiểm Medicare mua thuốc cùng giá mà các nước khác phải chi trả.
“Chúng ta ưu tiên cho bệnh nhân hơn là giới vận động, ưu tiên cho công dân cao niên hơn là các đặc lợi, và chúng ta đặt nước Mỹ lên trên hết,” Tổng thống Trump tuyên bố trước khi ký các sắc lệnh vừa kể

Liên quan

Nhân viên rời lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô, Trung Quốc

VOA
26/7/2020

Quang cảnh bên ngoài lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô.

Quang cảnh bên ngoài lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô.

Nhân viên của lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô, Trung Quốc, hôm 26/7, tiếp tục dọn dẹp cơ sở ngoại giao này, một ngày trước thời hạn phải đóng cửa theo yêu cầu của Trung Quốc, Reuters đưa tin.
Hãng tin Anh cho biết, nhiều người hiếu kỳ đứng ở phía đối diện cửa vào lãnh sự quán, cùng với hàng chục nhân viên mặc đồng phục lẫn thường phục.
Tin cho hay, cảnh sát đã yêu cầu người dân rời đi sau khi họ chụp ảnh và quay phim trong ngày cuối cùng cơ sở ngoại giao này vẫn thuộc quyền kiểm soát của Mỹ.
Giao thông ở khu vực đã bị chặn lại, trừ các xe của lãnh sự Mỹ và cảnh sát.
Theo Reuters, một chiếc xe buýt hiện diện ở trong lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô từ hôm 25/7 đã rời đi sáng 26/7.
Hiện chưa rõ là ai ở trên xe cũng như xe chở gì. Hãng tin Anh cho biết, kể từ ngày 24/7, các nhân viên tới rồi đi, trong đó có ít nhất một người mang theo vali.
Ngoài ra, các xe tải vận chuyển đồ đạc cũng tiến vào lãnh sự quán rồi rời đi trong ngày 25 và 26/7.
Để trả đũa Washington, Trung Quốc hôm 24/7 yêu cầu đóng cửa lãnh sự quán Mỹ ở Thành Đô và đặt ra thời hạn là 10 giờ sáng 27/7, theo một biên tập viên của tờ báo lá cái của Trung Quốc.
Reuters đưa tin, hôm 24/7, một nhóm người đàn ông được một nhân viên ngoại giao Mỹ tháp tùng đã phá cửa để tiến vào lãnh sự quán Trung Quốc ở Houston sau khi lệnh đóng cửa có hiệu lực.
Bước đi mới nhất của cả hai phía gây thêm căng thẳng trong mối quan hệ vốn bị tác động mạnh bởi tranh cãi về các vấn đề thương mại, công nghệ, dịch COVID-19, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông và Hong Kong.

Nữ minh tinh của bộ phim 'Cuốn theo chiều gió' qua đời ở tuổi 104

Olivia de Havilland, nữ minh tinh Hollywood, đã qua đời do tuổi cao sức yếu tại nhà riêng ở Paris, nơi bà sinh sống hơn 60 năm qua.

27/7/2020



Nu minh tinh cua bo phim 'Cuon theo chieu gio' qua doi o tuoi 104 hinh anh 1Olivia de Havana đoạt hai tượng vàng Oscar cùng hàng loạt giải thưởng danh giá khác. (Nguồn: Getty Images)
Tạp chí Hollywood Reporter thông báo Olivia de Havilland, ngôi sao của bộ phim kinh điển "Cuốn theo chiều gió" (Gone with the wind), đã qua đời ngày 26/7 ở tuổi 104.
Tạp chí trên dẫn lời đại diện báo chí của bà Havilland cho biết nữ minh tinh Hollywood qua đời do tuổi cao sức yếu tại nhà riêng ở Paris, nơi bà sinh sống hơn 60 năm qua.
Trước khi qua đời, Havilland là người duy nhất còn sống trong "Thế hệ Vàng của Hollywood."
Mỹ nữ "Cuốn theo chiều gió" đoạt hai tượng vàng Oscar cùng hàng loạt giải thưởng danh giá khác.
Ngoài vai diễn nàng Melanie trong tác phẩm kinh điển năm 1939, Olivia de Havilland còn góp mặt trong nhiều bộ phim thành công khác như "To Each His Own" năm 1946 và "The Heiress" năm 1949./.
(TTXVN/Vietnam+)
Powered by Blogger.