Hải Ngoại Ngày Nay


LIÊN KẾT HẢI NGOẠI YỂM TRỢ QUỐC NỘI ĐẤU TRANH

GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI VIỆT CỘNG

GIẢi TRỪ HIỂM HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG

Tòa án quốc tế về Luật Biển cảnh cáo TQ về hành vi khiêu khích trên Biển Đông

Thursday, August 29, 2019 // ,

Cơ quan Đáy biển Quốc tế, thuộc Tòa án Quốc tế về Luật Biển (24/7) đã có buổi làm việc trực tiếp với Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp quốc Mã Triêu Húc để cảnh cáo Bắc Kinh liên quan hoạt động xâm phạm quyền lợi biển của Việt Nam, vi phạm các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).

Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp quốc Mã Triêu Húc
Theo thông tin trên, Cơ quan Đáy biển Quốc tế, thuộc Tòa án Quốc tế về Luật Biển nhận thấy hành động gây hấn của Trung Quốc ở khu vực phía Nam Biển Đông (Bãi Tư Chính), được Liên Hiệp Quốc đánh giá là vô cùng nguy hiểm, đã vi phạm nghiêm trọng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 mà Trung Quốc đã ký kết. Do đó, Cơ quan Đáy biển Quốc tế đã làm việc với Đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp quốc Mã Triêu Húc. Trong suốt buổi làm việc, Cơ quan Đáy biển Quốc tế đã đưa ra hàng loạt cảnh cáo nghiêm khắc dành cho Đại sứ Trung Quốc; đồng thời yêu cầu Trung Quốc dừng ngay các hành động phi pháp của mình tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông. Đây là vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam theo đúng quy định của Công ước về Luật Biển.
Đáng chú ý, sau buổi làm việc Cơ quan Đáy biển Quốc tế đã đưa ra tuyên bố: “Dựa vào Công ước, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ tàu ra khỏi khu vực phía Nam Biển Đông, thuộc chủ quyền Việt Nam. Nếu Trung Quốc không nhanh chóng thực hiện, Liên hợp quốc sẽ đưa ra hình Lliên hợp quốc gửi đến Trung Quốc khi nước này cố ý đưa tàu khảo sát Hải Dương 8, cùng nhóm tàu hộ tống xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Nam Biển Đông.
Được biết, từ ngày 13/8, Trung Quốc ngang nhiên điều tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 cùng nhiều tàu hộ tống khác quay trở lại hoạt động trái phép trong vùng biển của Việt Nam. Nhóm tàu này trước đó đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía đông nam Việt Nam từ đầu tháng 7 đến ngày 7/8. Đây là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, được xác định theo các quy định của UNCLOS.
Giới chuyên gia nhận định, hành vi đưa tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc tháng 7/2019 đi sâu vào vùng biển Nam Biển Đông, gần với lô khai thác 06-01 thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam thể hiện sự ngông nghênh, coi thường pháp luật quốc tế. Không phải cho đến bây giờ Trung Quốc mới bắt đầu những hành vi gây căng thẳng và phức tạp hóa các tranh chấp tại khu vực Biển Đông. Sau sự kiện ngày 7/5/2009, khi Trung Quốc gửi công hàm số hiệu CML/17/2009 đến Tổng Thư ký Liên hợp quốc nhằm phản đối việc Việt Nam nộp báo cáo về ranh giới ngoài thềm lục địa cho Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc, cũng chính trong văn bản này, lần đầu tiên Chính phủ Trung Quốc đã công khai yêu sách “đường 9 đoạn” trên Biển Đông. Từ đó đến nay, Trung Quốc không ngừng gia tăng các hoạt động nhằm hiện thực hóa tham vọng trên Biển Đông, bất chấp dư luận quốc tế và phán quyết của Tòa trọng tài Thường trực (PCA) năm 2016 trong vụ kiện Philippines - Trung Quốc. Mới đây nhất, hành vi đưa tàu thăm dò địa chất Hải Dương 8 đi sâu vào vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam là vi phạm tiếp theo, thể hiện sự coi thường pháp luật quốc tế, trong đó đặc biệt là UNCLOS năm 1982 mà cả Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước trên thế giới cùng là thành viên Công ước.
Vi phạm của tàu Trung Quốc một lần nữa làm cho các vấn đề Biển Đông ngày càng trở nên phức tạp, đe dọa đến sự ổn định, hòa bình của khu vực; xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với UNCLOS, vì bãi Tư Chính (tiếng Anh là Vanguard Bank) là một cụm rạn san hô hoàn toàn ngập dưới mực nước biển, nằm ở phía Nam của Biển Đông, cách Phan Thiết (Việt Nam) dưới 200 hải lý, cách lục địa Trung Quốc khoảng 600 hải lý và cách cấu trúc nổi gần nhất thuộc quần đảo Trường Sa (Việt Nam) khoảng 160 hải lý. Theo đúng các quy định của UNCLOS, Việt Nam thiết lập vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải, hợp với lãnh hải thành một vùng biển có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Việt Nam đồng thời xác định thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, tiếp liền và nằm ngoài lãnh hải Việt Nam, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Dựa trên các quy định này thì bãi Tư Chính nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, được xác định theo đúng các quy định của UNCLOS.
“Để biện minh cho các hoạt động vi phạm tại khu vực bãi Tư Chính, Trung Quốc tuyên bố có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng nước liên quan. Kết nối với những tuyên bố trước đây của Trung Quốc, có thể thấy rõ hơn tiến trình “kiểm soát” và tham vọng “quản lý” Biển Đông của Trung Quốc, hiện thực hóa “đường lưỡi bò” phi pháp và đẩy lên thành vùng biển tranh chấp trên Biển Đông. Từ năm 2009, Trung Quốc công bố bản đồ thể hiện yêu sách phi lý về “đường 9 đoạn” chiếm 70% diện tích Biển Đông, đòi hỏi “quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất đáy biển ở đó”. Yêu sách “đường 9 đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý và thực tiễn và đã bị Tòa Trọng tài (PCA) bác bỏ trong vụ tranh chấp Philippines - Trung Quốc. Trong phán quyết ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài (PCA) kết luận rằng “các vùng biển do Trung Quốc xác lập ở Biển Đông không được vượt quá giới hạn do UNCLOS quy định; việc Trung Quốc yêu sách quyền chủ quyền, quyền tài phán và “quyền lịch sử” (historic rights) trong phạm vi “đường 9 đoạn” là vi phạm các quy định của UNCLOS và không có hiệu lực pháp lý”. Ngoài ra, Tòa Trọng tài còn khẳng định không có thực thể địa lý nào thuộc quần đảo Trường Sa có quy chế của đảo. Một số thực thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa luôn ở trên mực nước biển khi thủy triều lên cao nhưng không thích hợp cho đời sống con người hoặc một đời sống kinh tế riêng nên chỉ có quy chế của đảo đá. Do vậy, theo khoản 3, Điều 121 UNCLOS, những thực thể địa lý này chỉ có lãnh hải bao quanh với chiều rộng không vượt quá 12 hải lý, không có vùng đặc quyền kinh tế và không có thềm lục địa riêng.
Vì những lý do trên, yêu sách “đường 9 đoạn” của Trung Quốc không có giá trị pháp lý, các thực thể địa lý thuộc quần đảo Trường Sa không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Khu vực bãi Tư Chính của Việt Nam không nằm trong vùng biển chồng lấn với Trung Quốc mà nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, chỉ Việt Nam mới có quyền chủ quyền theo quy định của UNCLOS. Phù hợp với các quy định của UNCLOS, trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, Việt Nam thực hiện quyền chủ quyền mang tính riêng biệt đối với thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Việt Nam đồng thời có đặc quyền trong việc xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình.
Tại những vùng biển trên, nếu không được sự cho phép của Việt Nam, các quốc gia khác không được quyền tiến hành thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên, lắp đặt thiết bị, công trình nhân tạo ở vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Tàu Trung Quốc có thể di chuyển qua lại khu vực Nam Biển Đông, nhưng cần phải có nghĩa vụ tôn trọng các quyền của Việt Nam và không được cản trở những hoạt động thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam. Thời gian qua, Việt Nam đã sử dụng các biện pháp ngoại giao nhằm yêu cầu Trung Quốc chấm dứt hành vi vi phạm. Trên thực địa, lực lượng chức năng của Việt Nam kiên quyết, kiên trì bảo vệ các quyền được ghi nhận bởi UNCLOS, yêu cầu các tàu Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế và rút khỏi vùng biển Việt Nam. Như vậy, Việt Nam thực thi quyền trên cơ sở các quy định của luật quốc tế, giải quyết bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.
Nhìn chung, Cơ quan Đáy biển Quốc tế, thuộc Tòa án Quốc tế về Luật Biển đã cảnh cáo Bắc Kinh liên quan hoạt động xâm phạm quyền lợi biển của Việt Nam, vi phạm các quy định của UNCLOS cho thấy cộng đồng quốc tế đều đang đứng về lẽ phải, lên án các hành vi kiêu khích của Trung Quốc trên Biển Đông.

Giới chức ngoại giao Việt Nam cùng lên án hành động phi pháp của TQ trên Biển Đông


Khi Trung Quốc điều tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 quay trở lại hoạt động trái phép trong vùng biển của Việt Nam, giới chức ngoại giao của Việt Nam đã đưa ra nhiều tuyên bố khẳng định chủ quyền ở Biển Đông, đồng thời lên án hành vi phi pháp của Trung Quốc.

Tàu hải cảnh 3901 của Trung Quốc tham gia hộ tống tàu Hải dương 8
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng (16/8) nhấn mạnh đây là vùng biển hoàn toàn thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, được xác định theo các quy định của Công ước của LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982. Việt Nam đã giao thiệp với Trung Quốc, phản đối việc Trung Quốc tái diễn vi phạm nghiêm trọng, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ nhóm tàu nói trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán, các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam theo UNCLOS 1982 và luật pháp quốc tế.Hiện nay, các lực lượng chức năng của Việt Nam tiếp tục triển khai các biện pháp thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán theo đúng pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc tế.Việt Nam cũng khẳng định hết sức coi trọng hòa bình, an ninh, thượng tôn pháp luật ở Biển Đông và thiện chí giải quyết các bất đồng thông qua các biện pháp hòa bình, luôn coi trọng và mong muốn thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Trung Quốc vì lợi ích của hai nước, nhân dân hai nước, và hòa bình, ổn định, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình.Việt Nam kêu gọi các nước có liên quan và cộng đồng quốc tế đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác ở Biển Đông, khu vực và quốc tế. Trước đó, trong thông cáo hôm 16/8, bà Lê Thị Thu Hằng cho biết tàu khảo sát Địa chất Hải Dương 8 và một số tàu hộ tống của Trung Quốc ngày 13/8 đã quay lại xâm phạm vùng biển Việt Nam. Nhóm tàu này trước đó đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa phía đông nam Việt Nam từ đầu tháng 7 đến ngày 7/8. Bà Lê Thị Thu Hằng nêu rõ, Việt Nam đã giao thiệp với Trung Quốc, phản đối việc Trung Quốc tái diễn vi phạm nghiêm trọng, yêu cầu Trung Quốc rút toàn bộ nhóm tàu nói trên ra khỏi vùng biển của Việt Nam.
Nguyên Thứ trưởng Ngoại giao, Đại sứ Phạm Quang Vinh (21/8) cho biết, Việc Trung Quốc điều nhóm tàu Hải Dương 8 vi phạm và tái vi phạm vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam là hành động rất nghiêm trọng, tạo ra tiền lệ nguy hiểm và làm xói mòn lòng tin ở khu vực. Việt Nam đang kiên quyết đấu tranh bằng chính nghĩa của mình. Theo ông Phạm Quang Vinh: “Đây là sự vi phạm, và còn tái diễn, rất nghiêm trọng đối với vùng biển của Việt Nam, vi phạm luật pháp quốc tế và UNCLOS. Chúng ta cần lên tiếng, đã lên tiếng và vận động công luận lên tiếng phản đối sự vi phạm này và yêu cầu Trung Quốc phải rút.Điều thứ hai tôi muốn nhấn mạnh là những hành vi của Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam không chỉ là sự tái diễn nguy hiểm đối với Việt Nam mà còn tạo ra tiền lệ nguy hiểm đối với khu vực, làm xói mòn lòng tin đối với khu vực với mong muốn duy trì trật tự luật pháp trên biển, xây dựng lòng tin vì hợp tác và phát triển ở khu vực. Tất cả các quốc gia trong và ngoài khu vực, trong đó có cả ASEAN và Trung Quốc, cần nêu cao trách nhiệm về thượng tôn pháp luật, xây dựng hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực này. Việc Trung Quốc viện dẫn “đường lưỡi bò” đã bị thế giới bác bỏ, bị Tòa án Trọng tài thường trực quốc tế về UNCLOS bác bỏ để xâm phạm vùng biển của nước khác, trên thực tế là thực hiện những đòi hỏi phi lý của Trung Quốc trên những vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia thành viên khác của UNCLOS, là không thể chấp nhận được. Những nỗ lực của ASEAN và Trung Quốc trong thực thi Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) cũng như việc soạn thảo Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC) cần phát huy những gì tích cực đã có, nhưng cũng phải cập nhật tình hình mới, trong đó có những diễn biến phức tạp hiện nay và trong thời gian qua, phải nhấn mạnh vấn đề thượng tôn pháp luật, trong đó có UNCLOS; phải kiềm chế không làm phức tạp tình hình; phải đóng góp xây dựng lòng tin ở khu vực; phải tôn trọng những vùng biển hợp pháp của các quốc gia ven biển được xác định trên cơ sở luật pháp quốc tế và UNCLOS”. Đáng chú ý, ông Phạm Quang Vinh nhấn mạnh, Việt Nam đã và sẽ tiếp tục lên tiếng để khẳng định chính nghĩa của mình, nói lên chủ trương hòa bình, hòa hiếu của Việt Nam, nhưng cũng kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình theo luật pháp quốc tế và UNCLOS. Theo đó, Việt Nam đã liên hệ thường xuyên với Trung Quốc để yêu cầu Trung Quốc tôn trọng vùng biển của Việt Nam. Việt Nam đã yêu cầu công luận cả trong và ngoài khu vực lên tiếng để phản đối hành vi vi phạm của các tàu Trung Quốc, đồng thời yêu cầu phải thúc đẩy hơn nữa tinh thần thượng tôn pháp luật, trách nhiệm đóng góp cho hòa bình, ổn định và hợp tác khu vực. Quan trọng nhất là Trung Quốc phải rút các tàu ra khỏi vùng biển của Việt Nam. Những việc Việt Namđang làm vừa thể hiện chính nghĩa của Việt Nam theo luật quốc tế, vừa thể hiện chủ trương hòa bình, hòa hiếu, nhưng cũng rất kiên quyết, kiên trì. Việt Namcần tiếp tục dựa trên luật pháp quốc tế, tiếp tục vận động dư luận và công khai những sự việc vi phạm này, đồng thời duy trì sự hiện diện của lực lượng chấp pháp để khẳng định chủ quyền biển đảo của mình. Khi luật pháp quốc tế và chính nghĩa được dư luận ủng hộ sẽ có sức nặng lớn để góp phần không chỉ bảo đảm quyền chủ quyền, quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam, mà còn bảo đảm tinh thần thượng tôn pháp luật và đóng góp vào hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực này.
Trước đó, ông Phạm Quang Vinh (20/8) cho rằng, ASEAN cần có một cơ chế để ngăn cản các hành động gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông và cộng đồng quốc tế cần ủng hộ các nỗ lực của ASEAN ngăn chặn các hành vi trái phép của Trung Quốc ở Biển Đông. Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, các hành vi của Trung Quốc đã đặt ra nhiều nguy cơ với Biển Đông và khu vực. Việc Trung Quốc liên tiếp hết lần này đến lần khác xâm phạm trái phép vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam là hành vi rất nghiêm trọng và là sự vi UNCLOS. Trong thời gian vừa qua, Trung Quốc không chỉ vi phạm luật pháp quốc tế đối với vùng biển Việt Nam mà còn xâm phạm chủ quyền của nhiều nước khác ở khu vực, làm xói mòn lòng tin của cộng đồng quốc tế đối với một cường quốc. Nhìn lại các diễn biến tại Biển Đông những năm gần đây, có thể thấy việc Trung Quốc đưa nhóm tàu Hải Dương 8 và các tàu hộ tống xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa của Việt Nam là một sự nối dài các nỗ lực hiện thực hóa tham vọng phi lý của Trung Quốc nhằm độc chiếm Biển Đông. Bởi vậy, theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, điều này là không thể chấp nhận được. Nếu các nước khác trong khu vực không lên tiếng thì đây sẽ là một tiền lệ nguy hiểm. Đại sứ Phạm Quang Vinh khẳng định: “Khu vực và cộng đồng quốc tế lên tiếng, kể cả các diễn đàn của ASEAN đã lên tiếng không đồng tình, phản đối các hành vi tôn tạo, các hành vi quân sự hóa xâm lấn các vùng biển của các nước. Công luận và quốc tế cần lên tiếng mạnh mẽ hơn về vấn đề này. Ở thời đại của chúng ta, quan trọng nhất là phải đảm bảo luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS, bảo đảm hòa bình an ninh, duy trì trật tự trên Biển, tôn trọng vùng biển hợp pháp của các nước, đặc biệt là vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của các nước. Những hành động như vừa qua là sai trái”. Đại sứ Phạm Quang Vinh nhấn mạnh, “Phán quyết của Tòa trọng tài quốc tế năm 2016 trong vụ Philippines kiện Trung Quốc là thể theo quy định của UNCLOS để thống nhất cách diễn giải và áp dụng công ước này ở Biển Đông. Phán quyết của Toà hoàn toàn có giá trị pháp lý và là một bộ phận của luật pháp quốc tế. Do đó, trong bất kỳ các vụ việc xử lý tranh chấp khác, Phán quyết của Tòa trọng tài về vụ kiện Philippines cũng sẽ là cơ sở để xử lý và diễn giải công ước. Tôi muốn nhìn nhận câu chuyện thế này. Thứ nhất, việc Trung Quốc xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và vùng đặc quyền kinh tế của Việt nam là không thể chấp nhận được. Thứ hai, phán quyết của Tòa Trọng tài 2016 là để diễn giải vào việc áp dụng và hiểu UNCLOS như thế nào. Cho nên phán quyết này sẽ là một bộ phận của Luật pháp Quốc tế. Trong phán quyết đã nhấn mạnh chuyện bác bỏ cái gọi là yêu sách đường 9 đoạn của Trung Quốc. Bất cứ hành động nào trái với luật pháp quốc tế đều bị bác bỏ”.
Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, “đối với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là ASEAN làm sao đảm bảo được, một là hòa bình, ổn định; hợp tác phát triển ở khu vực bao gồm cả hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông. Thứ hai phải bảo đảm được việc tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982. Nên trong suốt thời gian vừa qua, ASEAN đã nhấn mạnh rất nhiều lần điều này trong các Tuyên bố của mình về điều này. Cho nên, trong trường hợp Trung Quốc đang vi phạm hiện nay, bao gồm cả vi phạm vùng biển của Việt Nam ở Bãi Tư Chính thì ASEAN cần tiếp tục lên tiếng. Và vừa rồi hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tại Thái Lan đã lên tiếng về việc này. Đó là điều rất cần thiết. Các nước trong và ngoài khu vực cần ủng hộ tiếng nói của ASEAN. ASEAN hiện đang cùng Trung Quốc thúc đẩy đàm COC. Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông này muốn có hiệu lực, thực chất và hiệu quả cần bao gồm các nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế; Công ước Luật Biển đồng thời cũng cần bao gồm cả các nguyên tắc tôn trọng vùng biển và thềm lục địa của các quốc gia ven biển, phù hợp với Công ước quốc tế và UNCLOS 1982 mà Liên Hợp Quốc đã thông qua”.
Đại sứ của Việt Nam tại Australia Ngô Hướng Nam (22/8) cho biết việc Trung Quốc triển khai tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 cùng với hàng chục tàu hộ tống trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam là “một hành động vi phạm nghiêm trọng chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, theo Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển. Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN khác cũng sẽ hợp tác chặt chẽ với các đối tác đối thoại ASEAN, bao gồm Australia, để thúc đẩy việc tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS, nhằm duy trì trật tự pháp lý trên biển, để ngăn chặn sự cố và giảm căng thẳng, qua đó ngăn chặn căng thẳng, giảm thiểu rủi ro vì tính toán sai lầm ở Biển Đông. Tất cả những điều này là một phần của những nỗ lực chung của chúng tôi nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực và thế giới. Chúng tôi mong muốn Australia tiếp tục hỗ trợ trong nỗ lực này”. Ngoài ra, Đại sứ Ngô Hướng Nam cũng khẳng định Australia có lợi ích để đảm bảo việc duy trì lưu thông thương mại qua Biển Đông. Theo Đại sứ Ngô Hướng Nam, khoảng 60% hàng xuất khẩu và 40% hàng nhập khẩu của Australia đã đi qua Biển Đông. Với tầm quan trọng chiến lược của vùng biển này đối với khu vực và hơn thế nữa, việc giữ gìn hòa bình, ổn định và duy trì tự do hàng hải trên và qua Biển Đông không chỉ trở thành lợi ích chung mà còn là trách nhiệm chung của tất cả các nước.

Triều Tiên thử thành công vũ khí mới, góp phần nâng cao năng lực tác chiến cho quân đội


Kể từ Tháng 5/2019 đến nay, Triều Tiên đã tiến hành 9 lần phóng thử tên lửa nhằm kiểm tra loại vũ khí mới và nâng cao năng lực tác chiến cho lực lượng quân sự của nước này.

Truyền thông quốc tế và khu vực cho biết, Triều Tiên (24/8) tiếp tục phóng thử 2 vật thể bay từ tỉnh Nam Hamgyong về phía Biển Nhật Bản. Đây là vụ phóng thứ 5 của Triều Tiên chỉ riêng trong tháng này và là vụ thứ 7 kể từ cuối tháng 7. Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân (JCS) Hàn Quốc cho rằng các hai vật thể mới được phóng này dường như là tên lửa đạn đạo tầm ngắn. Theo JCS, các tên lửa này đã bay được khoảng 380 km, đạt độ cao 97 km và có tốc độ tối đa là 6,5 Mach.
Ngay sau khi Triều Tiên phóng “vật thể bay” trên, Nhà Xanh (Phủ Tổng thống Hàn Quốc) cho biết sẽ tổ chức họp Hội đồng An ninh Quốc gia sau vụ thử vũ khí mới nhất của Triều Tiên. Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho biết những vũ khí được phóng lên “rõ ràng là tên lửa đạn đạo” và nói chúng rơi xuống biển Nhật Bản (Hàn Quốc còn gọi là Biển Đông), nhưng không trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Trong khi đó, các nhà phân tích cho rằng Triều Tiên đã tung ra ít nhất 4 hệ thống tên lửa mới từ sau hội nghị thượng đỉnh giữa ông Kim và Tổng thống Mỹ Donald Trump hồi tháng 2.
Hãng thông tấn Triều Tiên - KCNA (25/8) cho biết, dưới sự chỉ đạo của Nhà lãnh đạo Kim Jong-un, nước này đã thử nghiệm thành công một hệ thống pháo phản lực phóng loạt cỡ nòng “cực lớn”. Theo KCNA, ông Kim Jong-un đã chỉ đạo vụ thử nghiệm và vụ phóng thử “đã chứng minh mọi đặc điểm kỹ thuật và chiến thuật của hệ thống đạt yêu cầu đề ra”. Nhà lãnh đạo Kim Jong-un đánh giá cao mẫu vũ khí mới cũng như nỗ lực của các nhà khoa học Triều Tiên trong quá trình nghiên cứu, thiết kế và hoàn thiện mẫu vũ khí này. Trước đó KCNA (24/8) khẳng định Bình Nhưỡng “không còn quan tâm” tới những biện pháp nới lỏng trừng phạt từ Mỹ; nhấn mạnh Triều Tiên sẽ không từ bỏ “an ninh chiến lược” để đổi lấy những biện pháp nới lỏng trừng phạt và Mỹ nên hiểu rằng Bình Nhưỡng sẽ không bao giờ mang vấn đề an ninh chiến lược quốc gia để “mặc cả”. Với Triều Tiên, các biện pháp trừng phạt, gia tăng sức ép và nới lỏng từng phạt đều vô tác dụng và không thể khiến họ thay đổi.
Giới chuyên gia cho rằng, Triều Tiên gần đây tiến hàng hàng loạt các vụ thử tên lửa và chế tạo tàu ngầm mới có khả năng mang theo cùng lúc 3 tên lửa đạn đạo liên lục địa, bất chấp cử chỉ thiện chí lịch sử mới đây của Tổng thống Mỹ Donald Trump khi trở thành Tổng thống Mỹ đương nhiệm đầu tiên trong lịch sử bước chân vào lãnh thổ Triều Tiên. Trong khi Tổng thống Mỹ vẫn mong muốn đảm bảo chiến thắng ngoại giao lớn về Triều Tiên để tạo cú hích trong chiến dịch tranh cử Tổng thống 2020, thì Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un cũng đang phải đối mặt với sức ép trong nước. Đã có một số ý kiến thận trọng về quyết định theo đuổi chính sách ngoại giao hạt nhân của Nhà lãnh đạo Triều Tiên đưa ra vào năm ngoái, đặc biệt sau khi Hội nghị thượng đỉnh tại Hà Nội vào tháng 2 vừa qua không đạt được bất kì sự nhượng bộ nào từ phía Mỹ trong việc nới lỏng các biện pháp trừng phạt kinh tế. Vì vậy, những cảnh báo của Triều Tiên cùng với các vụ thử tên lửa liên tiếp gần đây cho thấy nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un không chỉ muốn tìm kiếm các đảm bảo an ninh từ Mỹ, mà còn muốn được đối xử bình đẳng trong các cam kết đã đưa ra. Triều Tiên đã nhiều lần nhấn mạnh rằng không sẵn sàng đưa ra tất cả các nhượng bộ, nếu Mỹ không có biện pháp đáp lại. Phát biểu tại Hội nghị quốc tế về giải trừ vũ khí hạt nhân tại Geneva, nhà ngoại giao Triều Tiên Ju Yong-chol (6/8) nhấn mạnh: “Triều Tiên đã cảnh báo nhiều lần rằng các cuộc tập trận quân sự chung sẽ chặn những bước tiến trong mối quan hệ với Mỹ và Hàn Quốc. Điều này cũng có thể buộc Triều Tiên sẽ cân nhắc đưa ra các bước đi xa hơn. Không có luật nào qui định một nước tuân thủ cam kết trong khi các bên khác lại không thực hiện. Mỹ và Hàn Quốc thường khẳng định tập trận quân sự là phòng vệ và chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Vậy chúng tôi cũng phải phát triển và thử tên lửa để bảo vệ quốc phòng cần thiết cho chúng tôi”.
Trong khi đó, Tạp chí Vox cho rằng, một triển vọng về thỏa thuận hạt nhân càng trở nên xa vời khi Triều Tiên liên tiếp thực hiện các vụ thử tên lửa. Theo tạp chí này, Chủ tịch Kim Jong-un có nhiều lý do để sản xuất vũ khí mới, trong đó có sự tức giận vì Mỹ - Hàn tập trận chung trong khi ngoại giao với Washington vẫn giậm chân tại chỗ và cả khát vọng bảo vệ chính quyền của mình. Các chuyên gia cũng cho rằng, tốc độ gia tăng các vụ thử vũ khí mới của Triều Tiên cho thấy cơ hội đạt thỏa thuận hạt nhân với chính quyền Kim Jong-un đang tuột khỏi tầm tay. Nó cũng có nghĩa là dù ông Trump nói gì, Bình Nhưỡng vẫn tiếp tục củng cố sức mạnh và ngày càng trở nên lợi hại hơn. Theo tạp chí Vox, dù lý do là gì, các cuộc thử nghiệm vũ khí của Triều Tiên chứng tỏ một điều rõ ràng rằng nỗ lực của Tổng thống Trump trong tiến trình giải giáp vũ khí hạt nhân của Triều Tiên đã thất bại, vì: Thứ nhất, Tổng thống Trump tuyên bố ông không thấy có vấn đề gì với việc Bình Nhưỡng thử các tên lửa tầm ngắn, ngoại trừ bom hạt nhân hay loại tên lửa có thể bắn tới Mỹ. Triều Tiên nắm bắt rất rõ thông điệp này. Thứ hai, Triều Tiên rất tức giận với Seoul và Washington. Trong một thông cáo tuần trước, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Triều Tiên lên án Mỹ và Hàn Quốc tập trận chung dù sự kiện này đã được thu nhỏ quy mô để xoa dịu căng thẳng. Thứ ba, Kim Jong-un muốn ông Trump biết rằng thời gian tiến tới một thỏa thuận hạt nhân đang hết dần. Hai nước đã rơi vào bế tắc nhiều tháng qua xoay quanh một vấn đề chủ chốt: Kim Jong-un muốn Mỹ dỡ cấm vận trước khi Triều Tiên từ bỏ một số vũ khí, còn ông Trump muốn Bình Nhưỡng phải giải giáp hết vũ khí thì mới ngừng cấm vận. Bằng cách phóng thử các vũ khí mới, chính quyền Kim Jong-un đang cố gắng thúc ép ông Trump phải nhượng bộ.
Trong khi đó, cũng có nhiều ý kiến cho rằng Chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump được đánh giá có phản ứng khá mềm mỏng với các vụ phóng thử tên lửa liên tiếp của Triều Tiên gần đây. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper tuyên bố, Mỹ vẫn để ngỏ cánh cửa đối thoại với Triều Tiên. Theo ông Mark Esper: “Tôi nghĩ điều quan trọng hiện nay đó là tiếp tục mở cánh cửa ngoại giao. Hai nhà lãnh đạo Mỹ- Triều Tiên đã có cuộc gặp hữu ích và chúng tôi sẽ không phản ứng thái quá với các vụ phóng tên lửa này. Tuy nhiên Mỹ sẽ giám sát và theo dõi chặt chẽ những diến biến đang xảy ra”. Chính cách tiếp cận của Tổng thống Mỹ Donald Trump với Triều Tiên đã giúp cải thiện nhiều mối quan hệ song phương thời gian qua, nhưng vẫn chưa đủ để mang lại hòa bình. Giới chuyên gia cho rằng, Mỹ nên quan tâm hơn đến những lo ngại của Triều Tiên và một cách tiếp cận “có đi có lại” sẽ mang lại kết quả có ý nghĩa hơn trong tiến trình phi hạt nhân hóa trên Bán đảo Triều Tiên. Ngoài ra, Mỹ cũng không nên lờ đi những cảnh báo leo thang của Triều Tiên bằng việc “không làm gì” vì kiên nhẫn của Triều Tiên cũng chỉ có giới hạn. Đầu tháng 8, Triều Tiên tuyên bố có thể tiếp tục nối lại các vụ thử tên lửa đạn đạo liên lục địa, trong khi nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un cũng đặt ra hạn chót rõ ràng cuối năm nay để nối lại đàm phán. Giới quan sát nhận định, nếu Mỹ tiếp tục không phản ứng và hạn chót cuối năm 2019 đi qua mà không có sự thay đổi lập trường trong đàm phán của Mỹ, nhà lãnh đạo Triều Tiên có thể chào đón năm mới với một vụ “nổ lớn”.

Philippines sẽ mất tất cả khi muốn “ăn chia” 60/40 với TQ ở Biển Đông


Đề xuất “ăn chia” 60/40 được Trung Quốc và Philippines đề cập trong một bản ghi nhớ (MOU) về khai thác chung ở khu vực trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines. Theo đánh giá của giới chuyên gia, nhiều khả năng đề xuất trên sẽ được Manila và Bắc Kinh chính thức thông qua trong chuyến thăm Trung Quốc sắp tới của Tổng thống Philippines Duterte.

Hợp tác khai thác chung trên biển
Cơ sở pháp lý để thực hiện mô hình khai thác chung chính là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982. Tuy nhiên, hiện chưa có một khái niệm thống nhất về khai thác chung.Giới học giả thường dựa vào diễn giải của các học giả Rainer Lagoni và Thomas A. Mensah. Theo đó, có hai trường hợp có thể áp dụng khai thác chung: Khi có một nguồn tài nguyên nằm vắt ngang biên giới biển của các quốc gia liên quan; Khi nguồn tài nguyên nằm trong khu vực chồng lấn các yêu sách giữa các quốc gia ven biển và chưa thể phân định được. 
Hình thức khai thác chung cũng rất đa dạng. Có thể là thiết lập một khu vực khai thác chung với các phân khu nhỏ, hay một khu vực phức hợp trong đó gồm nhiều khu vực nhỏ thực hiện các hợp tác khai thác chung giữa các quốc gia liên quan. Các khu vực hợp tác này tùy thuộc vào loại hình hợp tác mà các bên thỏa thuận.Trong việc thăm dò và khai thác tài nguyên dầu mỏ và khí đốt, có rất nhiều hình thức hợp tác, từ đơn giản đến phức tạp. Các thỏa thuận khai thác chung thường tồn tại dưới ba hình thức: Một quốc gia đứng ra thực hiện khai thác chung; Một liên doanh đứng ra khai thác; Một cơ quan sẽ được các bên trao thẩm quyền để tiến hành khai thác. Trong đó, liên doanh khai thác chung là mô hình được ưa chuộng nhất hiện nay. Mô hình này đòi hỏi các bên liên quan thành lập ra một liên doanh khai thác. Thành viên của liên doanh có thể là các công ty dầu khí quốc doanh của quốc gia đó hoặc các công ty dầu khí đại diện cho các quốc gia tham gia khai thác chung.
Đáng chú ý, “khai thác chung” theo kiểu của Trung Quốc hoàn toàn không giống và cũng không dựa trên các quy định của luật pháp quốc tế. Trung Quốc áp dụng quan điểm “khai thác chung” dựa trên Chính sách “gác tranh chấp, cùng khai thác” của Đặng Tiểu Bình. Chính sách này gồm bốn nội dung: (i) Chủ quyền lãnh thổ là thuộc Trung Quốc. (ii) Khi điều kiện cần thiết không xuất hiện để giải quyết toàn diện tranh chấp lãnh thổ, việc thảo luận vấn đề chủ quyền lãnh thổ sẽ tạm gác sang một bên. Việc gác lại tranh chấp chủ quyền lãnh thổ không có nghĩa là từ bỏ chủ quyền. Đó chỉ là tạm gác tranh chấp trong một thời gian. (iii) Lãnh thổ tranh chấp có thể được cùng các bên khai thác. (iv) Mục đích của cùng khai thác là duy trì sự hiểu biết lẫn nhau thông qua sự hợp tác và tạo ra các điều kiện cho việc giải quyết quyền sở hữu lãnh thổ.
Âm mưu của Trung Quốc khi muốn “ăn chia” trên Biển Đông
Dù Trung Quốc đề nghị khai thác chung nhưng nước này vẫn duy trì yêu sách đường chín đoạn phi pháp chiếm gần 80% Biển Đông. Bắc Kinh vẫn ngang ngược tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam) cùng với hai khu vực khác là Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và vùng bãi cạn Macclesfield (Trung Quốc gọi là Trung Sa).Phần lớn các khu vực mà Trung Quốc dùng đủ sức ép để đề nghị “gác tranh chấp, khai thác chung” đều nằm trên khu vực thuộc EEZ hoặc thềm lục địa của nước khác, điển hình là Philippines và Việt Nam. Như vậy, Trung Quốc có hai mục tiêu. Về mặt chủ quyền: Trung Quốc muốn biến biển của nước khác thành vùng biển tranh chấp, qua đó từng bước hiện thực hóa yêu sách đường chín đoạn. Về mặt tài nguyên: Trung Quốc muốn biến tài nguyên của nước khác thành tài nguyên chung để khai thác.
Chỉ cần một nước bất kỳ chấp nhận “gác tranh chấp, cùng khai thác” là Trung Quốc sẽ đạt được thành công bước đầu. Tiếp đó, Trung Quốc sẽ dùng sức mạnh để ép các quốc gia còn lại phải thực hiện theo. Hệ lụy là các quốc gia tại khu vực biển Đông sẽ phải khai thác chung với Trung Quốc các nguồn tài nguyên nằm trong EEZ hoặc thềm lục địa của chính họ. Trong khi đó theo UNCLOS, các quốc gia đó có đặc quyền trong việc thăm dò, khai thác các nguồn tài nguyên mà không cần chia sẻ cho bất cứ ai.
Thỏa thuận “ăn chia” đặc biệt
Trong chuyến thăm Philippines, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (11/2018) đã ký một bản ghi nhớ (MOU) về khai thác chung ở khu vực trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines. Chính quyền Tổng thống Rodrigo Duterte, dù chưa chính thức “bắt tay” với Bắc Kinh nhưng nhiều lần lên tiếng hoan nghênh đề xuất “ăn chia” 60/40 của Trung Quốc mà Manila “được” phần lớn hơn. Tổng thống Philippines Duterte từng tuyên bố: “Đề xuất khai thác chung với tỉ lệ 60/40 nghiêng về phía chúng ta là một khởi đầu tốt. Tôi hy vọng rằng điều này sẽ dẫn tới một kết quả nào đó tích cực, như làm thế nào chúng ta có thể giải quyết một cách hòa bình phán quyết của Tòa Trọng tài”.
Theo nhận định của giới chuyên gia, Philippines chấp nhận “ăn chia” với Trung Quốc là do Manila muốn né tránh xung đột và thiệt hại trước sự hung hăng ngày càng gia tăng của Bắc Kinh. Từ sau sự kiện Trung Quốc tổ chức chiếm giữ bãi cạn Scarborough năm 2012, Trung Quốc không ngừng gây sức ép Philippines.Ngoài các vụ cho tàu va đâm, đe dọa tàu ngư dân Philippines, Trung Quốc còn nhiều lần tiến hành vây hãm Thị Tứ (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Việc gia tăng hoạt động quân sự hóa của Trung Quốc tại các đảo nhân tạo phi pháp trong bối cảnh quan hệ Mỹ - Philippines có chiều hướng xấu đi khiến ông Duterte thiếu tự tin. Không những vậy, Philippines dưới thời ông Duterte xem trọng lợi ích kinh tế với Trung Quốc hơn là câu chuyện xung đột ở Biển Đông. Góc nhìn (cá nhân) của Tổng thống Duterte trong việc chia tỉ lệ 60/40 và “miễn là Philippines được phần nhiều hơn” cho thấy tính thực dụng trong chính sách của Manila. Ông Duterte lâu nay tiếp cận Trung Quốc theo kiểu mềm mỏng để đổi lại các lợi ích kinh tế. Mục tiêu của Manila chính là dòng tiền đầu tư, dòng khách du lịch, tăng kim ngạch xuất khẩu và các khoản vay có ưu đãi cao từ chính quyền Bắc Kinh. Ngoài ra, Manila muốn lấy “khai thác chung” để nhắc lại phán quyết của Tòa Trọng tài. Chính quyền Duterte nhiều lần nhắc lại quan điểm ủng hộ đối với chủ trương hợp tác cùng chia sẻ tài nguyên (dầu khí, đánh bắt cá) với Trung Quốc. Theo đó, ông Duterte kỳ vọng đây sẽ là cơ sở để ông đưa vụ thắng kiện Trung Quốc tại Tòa Trọng tài năm 2016 đến chương trình nghị sự với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sắp tới.
Philippines sẽ mất tất cả
Điều 12 mục 2 của Hiến pháp năm 1987 của Philippines quy định: “Chính phủ Philippines phải bảo vệ các nguồn tài nguyên ở vùng nước quần đảo, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, đồng thời đảm bảo đặc quyền khai thác, sử dụng của người dân Philippines ở đó. Tất cả đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, mỏ than, dầu mỏ, khí đốt và các tài nguyên thiên nhiên khác thuộc sở hữu của nhà nước. Việc thăm dò, phát triển và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên này phải được dưới sự kiểm soát hoàn toàn và sự giám sát đầy đủ của nhà nước. Nhà nước có thể đảm nhận trực tiếp việc thực hiện các hành động này hoặc có thể đưa vào các sản phẩm hợp tác chung, liên doanh hoặc thỏa thuận chia sẻ sản phẩm với các công dân Philippines, hoặc hợp tác, liên kết với ít nhất 60% số vốn thuộc sở hữu của các công dân”. Theo đó, người dân Philippines có đặc quyền đánh bắt cá, khai thác dầu khí và các khoáng sản khác trong EEZ của họ. Quyền chủ quyền này thuộc về người Philippines và không có bất kỳ quan chức nào có thể từ bỏ quyền này mà không có sự đồng ý của người dân. Tuy nhiên, khu vực mà Philippines có chủ trương khai thác chung với Trung Quốc nằm hoàn toàn trong EEZ của Philippines, tức là hoàn toàn thuộc chủ quyền của Philippines, nên Manila không thể cho phép Bắc Kinh khai thác chung.
Giới chức Philippines liên tục đưa ra các tuyên bố chỉ trích, lên án thỏa thuận “ăn chia” giữa Trung Quốc và Philippines. Các thượng nghị sĩ Philippines khẳng định Tổng thống Duterte không có thẩm quyền cho phép người nước ngoài khai thác tài nguyên trong EEZ của Philippines. Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Albert del Rosario khẳng định nếu Manila đồng ý cho Trung Quốc khai thác chung trong EEZ, đó sẽ là một sự bành trướng thành công của Trung Quốc mà không cần nổ súng.Thay vì bắt tay với Trung Quốc, Philippines nên triển khai Lực lượng vũ trang Philippines (AFP) để bảo vệ vùng biển của quốc gia, không để lực lượng nước ngoài đến khai thác. Tổng tư lệnh của AFP chính là tổng thống Philippines, người có nhiệm vụ tuân theo hiến pháp, chỉ huy AFP bảo vệ nguồn tài nguyên biển trong EEZ của đất nước mình. Trong khi đó, Phó Chánh án Tòa án Tối cao Philippines Antonio Carpio cho rằng Tổng thống Philippines có thể đi đến các thỏa thuận với các tập đoàn nước ngoài liên quan đến các vấn đề về công nghệ hoặc trợ giúp về tài chính. Từ đó Philippines có thể thực hiện các dự án thăm dò, phát triển và sử dụng quy mô lớn đối với các tài nguyên khoáng sản, dầu mỏ và khí đốt tuân theo các quy định của luật pháp. Tuy nhiên, Chính phủ Philippines không thể cho phép ngư dân Trung Quốc đánh cá ở EEZ của Philippines vì điều đó vi phạm Hiến pháp. Theo điều 12 mục 2 của hiến pháp, chính phủ phải bảo vệ các nguồn tài nguyên ở vùng nước quần đảo, lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế, đồng thời đảm bảo đặc quyền khai thác, sử dụng của người dân Philippines ở đó.Người dân Philippines có đặc quyền đánh bắt cá, khai thác dầu khí và các khoáng sản khác trong EEZ của họ. Quyền chủ quyền này thuộc về người Philippines và không có bất kỳ quan chức nào có thể từ bỏ quyền này mà không có sự đồng ý của người dân.
Không những vậy, giới chuyên gia nhận định việc Manila chấp nhận thỏa thuận “ăn chia” ở Biển Đông sẽ khiến Philippines đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức. Đầu tiên, việc ông Duterte lo ngại xung đột vũ trang cho thấy Manila mắc bẫy tâm lý của Trung Quốc. Bắc Kinh lâu nay cố gắng duy trì leo thang căng thẳng trong “vùng xám” bởi chiến tranh sẽ lợi bất cập hại với Trung Quốc: Mất uy tín, thiệt hại kinh tế, bị quốc tế phản ứng mạnh, gây sức ép lên sự đồng thuận chính trị trong nước, tạo cớ cho các nước thứ ba can dự mạnh.Việc Trung Quốc muốn thúc đẩy Bộ quy tắc ứng xử về biển Đông (COC) trong nhiệm kỳ Philippines làm điều phối viên quan hệ ASEAN - Trung Quốc (đến năm 2021) cho thấy Trung Quốc muốn tranh thủ quan hệ tốt với Manila, dùng “luật chơi riêng” giữa Trung Quốc với các quốc gia Đông Nam Á để đẩy Mỹ và đồng minh ra khỏi biển Đông mà không dùng vũ lực. Ngoài ra, việc Trung Quốc gia tăng sử dụng lực lượng tàu dân quân biển thay vì tàu chiến cho thấy Trung Quốc chỉ dọa chứ không chiến tranh. Khi đưa tàu gây rối trong EEZ Malaysia, Philippines và Việt Nam, nếu gặp phải phản ứng mạnh thì Trung Quốc đều tìm cách thoái lui.Trong khi đó, xét ở góc độ kinh tế, chiến thuật “lấy mềm mỏng đổi lấy lợi ích” của ông Duterte chưa mang lại hiệu quả rõ nét. Theo những số liệu kinh tế sau khi Philippines nối lại quan hệ hữu nghị với Trung Quốc vẽ lên một bức tranh hỗn tạp. Theo đó, đầu tư và thương mại không gia tăng ở mức đáng kể dù lượng du khách và người lao động Trung Quốc có tăng.Dù có nguồn thu từ du lịch nhưng Philippines phải đối mặt thách thức từ người lao  động Trung Quốc: Giảm việc làm đối với người dân Philippines; bất ổn an ninh quốc gia, đặc biệt trong vấn đề tình báo. Cuối cùng, nếu ông Duterte có ý định “cấp phép cho Trung Quốc” khai thác dầu khí, đánh cá chung trong EEZ của mình để yêu cầu Trung Quốc tôn trọng phán quyết của tòa hoặc thừa nhận chủ quyền của Philippines tại vùng khai thác chung thì thật sai lầm. Việc khai thác chung, về luật pháp quốc tế, chỉ tiến hành ở các vùng biển tranh chấp (nằm ngoài EEZ và thềm lục địa không có chồng lấn của quốc gia). Phán quyết của tòa năm 2016 đã xóa sạch yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc. Vậy nên nếu Philippines để Trung Quốc khai thác chung nghĩa là thừa nhận vùng biển của quốc gia thành vùng biển có tranh chấp, qua đó thừa nhận sự hiện diện của “đường 9 đoạn” phi pháp mà Trung Quốc ngang ngược theo đuổi.
Nhìn chung, sau khi sử dụng vũ lực lần lượt chiếm Hoàng Sa, một số thực thể ở Trường Sa, tiến hành bồi lấp công phu, quân sự hóa nhiều vũ khí nguy hiểm, Trung Quốc đang triển khai cùng lúc ba mặt trận là tâm lý, dư luận và pháp lý để giành ưu thế ở Biển Đông. Những đầu tư có tầng có lớp này của Trung Quốc chắc chắn không dừng lại ở việc hưởng lợi 40% nguồn tài nguyên khai thác chung với Philippines.Mục tiêu thật sự của Trung Quốc là từng bước biến vùng biển của nước khác thành vùng biển tranh chấp mà “khai thác chung” là một cách. Tiếp đến là từ vùng biển tranh chấp trở thành vùng biển của riêng Trung Quốc khi đối phương có bất kỳ sơ hở nào. Sự kiện Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough năm 2012 trong “tích tắc” là một bài học xương máu cho Philippines.

Đọc báo Pháp – 29/08/2019


Đọc báo Pháp – 29/08/2019

Chính sách « ngoại giao con tin » của Trung Quốc

Le Monde số đề ngày hôm nay 29/08/2019ghi nhận « Việc Trung Quốc bắt giữ một nhà văn Úc gây căng thẳng với Canberra ». Nhà trí thức đấu tranh cho dân chủ Dương Hằng Quân (Yang Hengjun) bị bắt hồi đầu năm khi đến Quảng Châu, và đến bây giờ thì mới bị cáo buộc tội « làm gián điệp ».
Có nghĩa là đến bảy tháng sau, lý do bắt nhà văn Úc gốc Hoa mới được đưa ra. Ngoại trưởng Úc Marise Payne lớn tiếng phản đối : « Nếu Dương Hằng Quân bị bắt vì lý do chính trị, thì phải trả tự do cho ông ấy. Tôi sẽ tiếp tục biện hộ cho ông Dương cho đến khi có được lời giải thích thỏa đáng về việc bắt giữ, ông phải được đối xử nhân đạo và được cho về nhà ». Bà Payne đã chất vấn chính quyền Trung Quốc năm lần, khẳng định cáo buộc gián điệp là « vô căn cứ »,trong khi tội danh này có khung hình phạt từ ba năm tù cho đến tử hình.
Càng bất đồng với phương Tây, càng dễ bắt người
Có bằng tiến sĩ của một trường đại học công nghệ ở Sydney, nhập tịch Úc năm 2002, Dương Hằng Quân là tác giả của nhiều cuốn sách trong đó các một số tiểu thuyết tình báo. Ông đã nhiều lần chỉ trích chế độ cộng sản Bắc Kinh, nhất là trên mạng xã hội. Sống tại New York với tư cách nhà nghiên cứu của trường đại học Columbia, ông bị bắt khi sang Trung Quốc, bị giam ở một nơi bí mật, gia đình và luật sư không được thăm viếng.
Giáo sư Rory Madcalf, trường An ninh Quốc gia thuộc Đại học quốc gia Úc ở Canberra nhận xét giọng điệu của ngoại trưởng Payne là « đặc biệt cứng rắn về ngoại giao ». Ông cảnh báo trong những năm tới, nhiều chính phủ châu Âu sẽ phải đối mặt với tình trạng tương tự, khi các vấn đề bất đồng giữa Trung Quốc với phương Tây ngày càng nhiều.
Cũng như Úc, Canada có hai công dân – một nhà cựu ngoại giao chuyển sang nghiên cứu và một nhà tư vấn – đã bị bắt giữ tùy tiện từ tháng 12/2018, rõ ràng để trả đũa vụ giám đốc tài chính của Hoa Vi bị bắt ở Vancouver theo yêu cầu dẫn độ của Mỹ.
Một trường hợp khác là Quế Dân Hải (Gui Minhai), chuyên xuất bản những cuốn sách phê phán đảng Cộng Sản Trung Quốc ở Hồng Kông, bị bắt cóc và sau đó xuất hiện « tự thú » trên truyền hình nhà
nước. Ông Quế mang quốc tịch Thụy Điển, nhưng cho đến nay Bắc Kinh vẫn làm ngơ trước các vận động của Stockholm.
Người gốc Hoa trên toàn thế giới bị coi là thần dân Bắc Kinh
Giáo sư Medcalf gọi đây là một « nền ngoại giao con tin ». Ông cho rằng Trung Quốc không đơn thuần tấn công Úc trong trường hợp nhà văn Dương Hằng Quân, mà vụ này « phản ánh một xu hướng rất tiêu cực trong quan hệ giữa Trung Quốc và nhiều nước ». Bắc Kinh gởi đi thông điệp rằng họ « coi tất cả những người gốc Hoa trên khắp thế giới là những cá nhân phải tuân lệnh Trung Quốc, và dùng cái cớ an ninh quốc gia để răn đe những người chỉ trích ».
Trung Quốc là đối tác thương mại hàng đầu của Úc, mua quặng sắt và than đá Úc. Nhưng Canberra ngày càng khó chấp nhận cánh tay nối dài của Bắc Kinh khuấy đảo chính trường Úc, vươn ra  tận các đảo Thái Bình Dương.
Năm 2018 Úc thông qua một loạt các luật nhằm chống lại sự lũng đoạn chính trị của nước ngoài, và tuần này đã mở điều tra về món tiền của một đại gia Trung Quốc là Hoàng Hướng Mặc (Huang Xiangmo) tặng cho một thành viên của đảng Lao Động Úc trước cuộc bầu cử năm 2015.
Hôm qua 28/8, một nhóm đặc nhiệm đã được thành lập với nhiệm vụ nhận dạng ảnh hưởng nước ngoài tại các trường đại học Úc, sau khi xảy ra các vụ sinh viên Hoa lục tấn công sinh viên Hồng Kông.
Đến lượt doanh nghiệp bị đánh giá bằng « điểm tín nhiệm »
Cũng liên quan đến Trung Quốc, Les Echos đề cập đến tình trạng các công ty ngoại quốc bị « Big Brother » dò xét. Bắc Kinh lập ra một hệ thống tín nhiệm xã hội để đánh giá theo các tiêu chí của Trung Quốc, và các doanh nghiệp châu Âu tại đây lo ngại đây là một thứ « quyền sinh quyền sát ».
Sau hệ thống Skynet chuyên giám sát người dân bằng các camera nhận diện, nay đến lượt « corporate social credit system » đang được thử nghiệm ở một số thành phố Trung Quốc và có thể được phổ biến toàn quốc từ năm tới. Trí tuệ nhân tạo và Big Data, vốn nằm trong số những ưu tiên đầu tư hàng đầu của Bắc Kinh, sẽ đánh giá các công ty ngoại quốc theo 300 tiêu chí và cập nhật thường xuyên để tưởng thưởng hay trừng phạt.
Phòng thương mại Châu Âu tại Bắc Kinh hôm qua báo động, những doanh nghiệp nào bị cho vào danh sách đen không chỉ bị phạt, mà còn bị thanh tra thường xuyên, bị chậm trễ ở hải quan, thậm chí có thể là mục tiêu của một chiến dịch tố cáo…Tuy nhiên giới doanh nhân châu Âu lại chưa chuẩn bị để đối phó.

Vụ Magnitski :

Nga bị Tòa án Nhân quyền Châu Âu kết án

Trên lãnh vực nhân quyền, Le Monde chú ý đến việc Nga bị Tòa án Nhân quyền Châu Âu (CEDH) kết án trong vụ Magnitski : Matxcơva phải chịu trách nhiệm về cái chết trong tù của vị luật sư chống tham nhũng hồi năm 2009.
Gần 10 năm sau khi qua đời trong một trại giam Matxcơva, hôm 27/8 ông Serguei Magnitski đã giành được thắng lợi. Thường xuyên bị đánh đập trong 11 tháng tạm giam, ông bị bỏ mặc trong xà lim và cuối cùng bị đánh chết.
Vị luật sư 36 tuổi này bị bắt năm 2008 với cáo buộc gian lận thuế, sau khi tố cáo một hệ thống trốn thuế lên đến 130 triệu euro do cảnh sát và quan chức thuế vụ cầm đầu. Ông bị buộc tội bởi chính những người mà mình tố cáo. Trong nhật ký, Serguei Magnitski kể lại những lần bị hành hạ, nhưng càng khiếu nại thì điều kiện giam giữ lại càng tệ hại hơn. Trước khi chết, chính ông đã kiện lên CEDH, một quá trình dài hơi được mẹ và vợ ông theo đuổi sau đó.

Đảo lộn liên minh trên chính trường Ý

Thời sự châu Âu chiếm trang nhất các báo Pháp hôm nay với việc thủ tướng Anh Boris Johnson đình chỉ hoạt động của Quốc Hội năm tuần, còn tại Ý, hai đảng có quan điểm rất khác nhau bắt tay lập chính phủ. Tít trang nhất của Les Echos nói về « Coup de Trafalgar » (sự kiện gây hậu quả nghiêm trọng) của Boris Johnson, Libération chạy tựa « Brexit : Ngày càng cứng rắn hơn ». Le Figaro nhấn mạnh việc « Đảo ngược liên minh ở Ý để chặn Salvini ». Về nội tình nước Pháp, Le Monde giải thích « Vì sao tổng thống Macron tỏ ra linh hoạt hơn về chính sách hưu bổng », còn La Croix quan tâm đến việc « Cảnh sát và công dân tái lập đối thoại ».
Trong bài « Cánh tả Ý quay lại nắm quyền với một liên minh chưa từng thấy », Le Figaro dẫn nhận định của tờ báo Ý Corriere della Sera, cho rằng đây là « một chính phủ theo nhu cầu », mà nhiệm vụ trước hết là ngăn chận phó thủ tướng cực hữu Matteo Salvini, và tránh một cuộc bầu cử trước thời hạn.
Ông Lorenzo De Sio, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Bầu cử (CISE) nhận xét : « Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Ý mà chính phủ từ cực hữu bỗng chuyển sang cánh tả với cùng một thủ tướng, mà không thông qua lá phiếu ». Và chỉ 20 ngày sau khi ông Salvini khởi đầu khủng hoảng hôm 8/8 – cuộc khủng hoảng đã khiến cho hai đảng dù rất ghét nhau phải xích lại gần nhau, vì cả hai đều có nguy cơ thua cuộc nếu tổ chức bầu trước hạn.
Loan báo về liên minh giữa đảng Dân Chủ (cánh tả) và Phong trào 5 Sao tức M5S (chống hệ thống) khiến Bruxelles thở phào nhẹ nhõm, thoát khỏi bóng ma một chính phủ cực hữu Ý vẫn ám ảnh từ đầu tháng Tám. Kết thúc mộtcuộc « chiến tranh du kích » do Matteo Salvini áp đặt, « làm đầu độc bầu không khí chính trị châu Âu » - theo Eric Maurice thuộc Fondation Schuman.
Trong bài xã luận mang tựa đề « Lễ tân hôn kiểu Ý », Le Figaro ví von, chính trường nước Ý cứ như một sân khấu liên tục đổi vở, và thường là hài kịch. Sau khi lãnh đạo một chính phủ phản tự nhiên giữa Liên Đoàn và M5S, có thể so sánh giữa cực hữu và cực tả, ông Giuseppe Conte lại tiếp tục làm thủ tướng với một nội các cánh tả liên minh với cực tả.
Tuy nhiên liệu đây có thể là một chính phủ bền vững, khi được lập ra trong thời gian rất ngắn, dựa trên những căn bản bất định với một chiến lược phòng thủ là chính ? Một nhà nghiên cứu cảnh báo, nếu chính phủ này thất bại, thì ông Salvini sẽ độc quyền đối lập, có thể thắng cử trong lần tới.

Cú sốc Nghị Viện tại Anh

Còn tại nước Anh, Libération khi đề cập đến cú sốc do thủ tướng Boris Johnson gây ra qua việc cho Nghị Viện tạm ngưng hoạt động, cho rằng thật ra thủ tục này là hợp pháp. Mục đích rất rõ ràng : hạn chế tối đa thời gian của các nghị sĩ để có thể phản đối lại một « Brexit cứng » mà ông Johnson mong muốn.
Có thể biện minh rằng Boris Johnson chỉ áp dụng một cách thô bạo quyết định của người dân lúc trưng cầu dân ý. Nhưng đó là quyết định nào ? Nhân dân Anh chọn ra khỏi Liên Hiệp Châu Âu, điều này không bàn cãi, nhưng có phải họ chọn một « Brexit cứng » hay không ? Dư luận, cũng như Nghị Viện, được chia không phải thành hai mà thành ba luống khác nhau.
Những người muốn ở lại trong Liên Hiệp Châu Âu chiếm 40% số người bỏ phiếu, số còn lại chia làm hai phe Brexit « hard » và « soft ». Nói cách khác, số « Brexit hard » như ông Johnson chỉ là thiểu số. Ông không cần biết, mà cố làm lấy được. Libération gọi đây là một sự « lừa đảo » : gọi tên nhân dân khi nghĩ giống mình và mặc kệ họ nếu có suy nghĩ khác. Theo logic dân chủ, lẽ ra phải tổ chức bỏ phiếu rộng rãi, và chỉ khi nào chiến thắng, ông Boris Johnson mới có thể nhân danh ý nguyện người dân. Trong khi chờ đợi, theo tờ báo, chỉ có một nhóm « phiến loạn » đang núp sau luật pháp.
Chuyên gia về Brexit Aurélien Antoine cho rằng ông Boris Johnson đã tính toán kỹ lưỡng, qua động thái này ông muốn đến Bruxelles với thế mạnh, không bị Nghị Viện ngáng chân như đã ba lần bác bỏ thỏa thuận do bà Theresa May thương lượng. Theo nhà phân tích này, đây là hành động hết sức khôn ngoan của ông Johnson.

Donald Trump, một người chiến thắng khác ở G7

Nhìn sang nước Mỹ, Libération nói về « Donald Trump, một người chiến thắng khác ở Biarritz »,theo tác giả Laurent Joffrin.
Đa số các nhà phê bình đều hoan nghênh thành công của tổng thống Pháp Emmanuel Macron, và họ có lý. Nhưng không chỉ có Macron, mà còn có một người chiến thắng khác ở G7 đã trở thành G2 : Donald Trump. Ngọt ngào, hòa nhã, nhiệt tình, hay ca ngợi…con cọp sang cả ở Nhà Trắng đã trở thành một chú mèo hiền lành. Thời khắc này đã giúp ông Trump trở thành một nguyên thủ đầy trách nhiệm, và giống như tổng thống Theodore Roosevelt đã nói, có thể « nói năng dịu dàng với một cây gậy to ».
Không chỉ được lên điểm trong thời kỳ vận động tranh cử, ông còn ra về với vài món quà trong túi. Trước hết là hồ sơ Iran, giờ đây theo tổng thống Pháp, có thể thương lượng một hiệp ước mới rộng hơn, gạt bỏ nguy cơ phát triển vũ khí nguyên tử, bảo đảm ổn định khu vực. Đây cũng chính là mục tiêu mà Donald Trump đề ra khi hủy ngang thỏa thuận mà Obama đã ký với Teheran. Ông cũng đồng ý với số tiền 20 triệu đô la giúp Brazil chống cháy rừng. Trump chấp nhận hành động « xanh » mang
tính biểu tượng này, vừa được tiếng thơm vừa khiến chủ nhà vui lòng, nhưng hai ngày sau lại lên tiếng ủng hộ « người phóng hỏa » Bolsonaro.

Tin đọc nhanh

(AFP) – Úc: Một nhà văn bị giam giữ ở Trung Quốc cầu cứu đến thủ tướng Morrison. 
Nhà văn Úc Dương Hoành Quân (Yang Heng Jun), bị tố cáo làm gián điệp ở Trung Quốc, muốn được « trở về nhà » càng sớm càng tốt. Ông bị bắt vào tháng Giêng, nhưng đến hôm 23/08 Bắc Kinh mới chính thức thông báo việc bắt giữ. Với tội danh gián điệp, ông Dương có nguy cơ bị án tù lâu dài. Thủ tướng Úc hôm nay 29/08/2019đã lên tiếng bác bỏ các cáo buộc của Trung Quốc nhắm vào nhà văn Úc, cho đấy là điều rất phi lý.
(AFP) – Tokyo cảnh báo châu Phi mang nợ Trung Quốc. 
Phát biểu tại hội nghị Nhật-Phi, tổ chức tại Yokohama, hôm nay 29/08/2019, thủ tướng Shinzo Abe báo động : châu Phi cần tránh để mang nợ quá nhiều. Năm 2018, Bắc Kinh hứa đầu tư 60 tỷ đô la vào châu lục này. Tokyo muốn đẩy mạnh hợp tác và sự hiện diện của các công ty Nhật tại Châu Phi.
(NHK) –Bắc Triều Tiên họp hội nghị trung ương Đảng lần thứ hai trong năm, lần đầu kể từ 2014.
Lãnh đạo Bắc Triều Tiên hôm nay, 29/08/2019 đã triệu tập họp toàn thể các ủy viên trung ương Đảng. Mọi chú ý đổ dồn về khả năng liệu Bình Nhưỡng có tiếp tục đàm phán với Washington về hồ sơ phi hạt nhân hóa hay không.
(AFP) – Quốc Hội Ukraina khai mạc khóa họp.
Nhân dịp này, ngày 29/08/2019, tổng thống Volodymyr Zelensky đề nghị Quốc Hội chỉ định Olexii Gontcharouk, 35 tuổi, làm thủ tướng.
(AFP) – Dịch sởi bùng phát tại 4 nước châu Âu. 
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), dịch sởi đã bùng phát trở lại tại Anh, Hy Lạp, Séc và Albanie. Đây đều là các quốc gia đi đầu trong chiến dịch tiêm vác xin phòng bệnh. Năm 2018, tại Anh, có 953 ca mắc bệnh sởi. Trong 3 tháng đầu năm 2019, có tới 89.994 ca bệnh sởi trên toàn thể 48 nước châu Âu, tăng gấp đôi so với cùng kỳ năm ngoái. 60% trường hợp người mắc bệnh sởi ở châu Âu là dưới 19 tuổi.
(AFP) – Cháy rừng Amazon : Bolivia hoan nghênh đóng góp « nhỏ nhoi » của G7. 
Tổng thống Bolivia Evo Morales hôm 27/08/2019, đã hoan nghênh quyết định của G7 trợ giúp khẩn cấp 20 triệu đô la để gởi máy bay xả nước dập tắt lửa trong vụ cháy rừng Amazon. Tuy nhiên ông cũng nói đến đóng góp « rất nhỏ », cho rằng số tiền của G7 không phải là viện trợ, mà là chia sẻ trách nhiệm. Tổng thống Morales cũng hy vọng khoản tiền sẽ đến càng sớm càng tốt.
(AFP) – Venise bước vào mùa liên hoan phim quốc 2019. 
Bộ phim La Vérité của đạo diễn Nhật Bản, Kore Eda, được chiếu trước lễ khai mạc đêm 28/09/2019. Hai ngôi sao điện ảnh Pháp Catherine Deneuve và Juliette Binoche thủ vai chính trong tác phẩm đầu tiên Kore Eda thực hiện ở hải ngoại. Năm nay có tổng cộng 21 phim tranh giải tại liên hoan phim Venise. Trong số này có J’accuse của đạo diễn Pháp gốc Ba Lan, Roman Polanski. Ông này nằm trong tầm ngắm của tư pháp Hoa Kỳ về một cáo buộc hãm hiếp một thiếu nữ hồi năm 1977.
(AFP) – Lễ hội nhạc Jazz năm 2019 tại Paris đã chính thức khai mạc. 
Lễ hội âm nhạc thường niên được tổ chức tại La Villette, Paris sẽ chính thức khai mạc tối 29/08/2019. Theo dự kiến, lễ hội diễn ra trong 12 ngày và thu hút khoảng 30.000 người. Không gian lễ hội được chia làm 3 phần với 3 buổi hòa nhạc. Nhiều nghệ sĩ nhạc Jazz nổi tiếng sẽ tham gia biểu diễn, chẳng hạn nghệ sĩ saxophone Archie Shepp, rapper Yasiin Bey, nghệ sĩ kèn trumpet đến từ Chicago Marquis Hill.

Powered by Blogger.