Hải Ngoại Ngày Nay


LIÊN KẾT HẢI NGOẠI YỂM TRỢ QUỐC NỘI ĐẤU TRANH

GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI VIỆT CỘNG

GIẢi TRỪ HIỂM HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG

Việt Nam phản hồi thông tin TQ "cứu hộ" tàu cá Việt Nam bị chìm ở Biển Đông

Friday, March 15, 2019 // ,
Theo phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng, khi tàu Trung Quốc đến, tàu cá Việt Nam đã chìm và các nhân viên cứu nạn Trung Quốc đã cứu sống những người trên tàu.
Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng.
Theo Uỷ ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, khoảng 10 giờ 10 phút ngày 6/3, tàu cá Việt Nam mang số hiệu QNg 90819 bị tàu Trung Quốc mang số hiệu BKS 44101 đâm chìm ở vị trí cách Đông Đà Nẵng khoảng 198 hải lý, trong khu vực đảo Đá Lồi, quần đảo Trường Sa, Biển Đông.
Tuy nhiên sau đó, phía Trung Quốc tuyên bố là cứu hộ tàu cá Việt Nam bị đâm chìm chưa rõ nguyên nhân.
Trả lời vấn đề này, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cho biết, ngày 9/3, cục lãnh sự BNG đã có thông tin về việc này. Theo đó, tàu QN 90819 TS05 đã gặp nạn và 5 ngư dân trên tàu được tàu Việt Nam cứu hộ an toàn. Các ngư dân tiếp tục hải trình, cho đến nay chưa quay về đất liền.
Về việc có yêu cầu Trung Quốc đền bù thiệt hại nếu Việt Nam xác nhận được việc tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm, bà Hằng cho hay, các cơ quan chức năng Việt Nam đang tích cực xác minh, nhằm triển khai các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngư dân.
Về một số diễn biến gần đây ở đảo Thị Tứ, thuộc quần đảo Trường Sa và việc Mỹ vừa điều máy bay ném bom đến khu vực Biển Đông, bà Lê Thị Thu Hằng cho biết, Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa cũng như quần đảo Hoàng Sa theo quy định của luật pháp quốc tế.
Đồng thời Việt Nam cho rằng trong khi cùng tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp tại Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế và để tạo thuận lợi cho tiến trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), các bên liên quan cần tuyệt đối tuân thủ Tuyên bố ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC), đặc biệt là quy định về việc kiềm chế, không có hành vi gây phức tạp và gia tăng tranh chấp, kể cả không có hành vi chiếm đóng những câu trúc chưa có người ở tại Biển Đông; hành xử có trách nhiệm và có đóng góp thiết thực, tích cực cho hòa bình, ổn định tại khu vực.

Nhật Bản đóng tàu mới để bảo vệ quần đảo tranh chấp với TQ

Lực lượng bảo vệ biển Nhật Bản (MSDF) sắp được sở hữu một đội tàu tuần tra mới, chủ yếu hoạt động quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.
Tàu tuần tra Trung Quốc và Nhật Bản áp sát nhau ở vùng biển quanh quần đảo Senkaku/ Điếu Ngư - Ảnh: Handout
Lực lượng bảo vệ biển Nhật Bản (MSDF) sắp được sở hữu một đội tàu tuần tra mới, chủ yếu hoạt động quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông.
Tàu mới dự kiến thực hiện nhiệm vụ theo dõi, trinh sát thay cho các khu trục hạm. Kế hoạch của chính phủ Nhật dự kiến công tác đóng 3 chiếc đầu tiên bắt đầu vào năm tài khóa 2020, trong vòng 10 năm sẽ đưa 12 tàu vào biên chế.
Với lượng giãn nước khoảng 1.300 tấn, thủy thủ đoàn 30 người, kích thước tàu mới sẽ lớn hơn tàu tuần tra tên lửa dẫn đường lớp Hayabusa (240 tấn, đang phục vụ) đáng kể.
Chưa rõ tàu mới trang bị vũ khí gì. Tàu Hayabusa có bệ phóng tên lửa kép cùng pháo cỡ 76mm trên boong trước. Để đủ sức theo dõi chặt hoạt động của quân đội Trung Quốc, tàu mới nhiều khả năng sở hữu hệ thống trinh sát tiên tiến.
Quần đảo Senkaku/Điếu Ngư nằm cách tỉnh Okinawa khoảng 400km về phía tây, hiện do Tokyo kiểm soát nhưng Bắc Kinh thường xuyên đưa tàu hoặc máy bay đến vùng biển xung quanh quấy rối. Vì nước láng giềng gia tăng hoạt động nên Nhật triển khai lực lượng giám sát và ngăn chặn.

Ngân sách quân sự TQ đứng thứ 2 thế giới nhưng sức mạnh không tương xứng?

Ngày 5.3 vừa qua, trong báo cáo của chính phủ trước kỳ họp thứ 2 quốc hội Trung Quốc khóa 13, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã công bố dự toán ngân sách quốc phòng năm 2019 là 1.189,88 tỷ Nhân dân tệ (177.6 tỷ USD), tăng 7,5% so với năm 2018, đứng thứ 2 thế giới.
Sau khi cải cách quân đội năm 2016, quân đội Trung Quốc ngày càng hiện đại hóa mạnh mẽ.
Chi phí quốc phòng tăng mạnh
Báo cáo về xếp hạng chi tiêu quốc phòng  của các quốc gia năm 2018 do Viện nghiên cứu Chiến lược quốc tế Anh Quốc (International Institute for Strategic Studies, IISS) cho thấy, Mỹ đứng đầu thế giới với 643 tỷ USD, Trung Quốc đứng thứ 2 với 168,2 tỷ USD, các nước đứng sau là Ả rập Xê-út, Nga và Ấn Độ. Năm 2019, Mỹ vẫn tiếp tục đứng đầu về chi phí quốc phòng với dự toán 716 tỷ USD.
Tuy nhiên, ngoài chi tiêu quốc phòng đối ngoại, Trung Quốc còn có một khoản chi tiêu đáng chú ý khác là “chi tiêu giữ ổn định” năm 2018 cũng tới 126 tỷ NDT, năm nay dự tính còn nhiều hơn.
Ngày 11.3, Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockkholm, Thụy Điển (SIPRI) công bố văn bản cho thấy, trong thời gian từ 2014 đến 2018, lượng vũ khí xuất khẩu của Mỹ đã tăng 6% so với giai đoạn từ 2009 đến 2013, đạt tới 36% tổng lượng vũ khí xuất khẩu của toàn thế giới.
Nhật báo Sankei Shimbun của Nhật ngày 11.3 đưa tin, tỷ lệ của nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ 2 là Nga giảm 6%, chiếm 21%. Trong khi đó lượng vũ khí mua vào của các nước Trung Đông đã tăng gấp đôi, Ả rập Xê-út nước nhập khẩu vũ khí lớn nhất (chiếm 12%) có lượng vũ khí nhập khẩu nhiều gấp 3 lần Ai Cập nước nhập khẩu vũ khí lớn thứ 3.
Bài báo viết, Trung Quốc tập trung chi tiêu cho việc hiện đại hóa vũ khí, năng lực khai thác gia tăng rõ rệt, lượng vũ khí nhập khẩu của Trung Quốc giảm đi 7%. Nga chiếm tới 70% thị trường nhập khẩu vũ khí của Trung Quốc, chủ yếu là các máy bay chiến đấu tính năng cao và các hệ thống vũ khí phòng không.
Lượng vũ khí xuất khẩu của Trung Quốc gia tăng 2,7%, chiếm 5,2% thị trường toàn thế giới. Số quốc gia mua vũ khí của Trung Quốc đã tăng từ 12 lên thành 53. Bài báo cho rằng, Trung Quốc muốn thông qua bán vũ khí để thắt chặt quan hệ ngoại giao. Do giá cả vũ khí biến động theo ảnh hưởng của nhân tố chính trị nên khi thống kê những cơ quan thống kê không tính theo kim ngạch giao dịch, mà lấy 5 năm làm một chu kỳ tính toán.
Đài truyền hình NHK của Nhật hôm 11.3 đưa tin, theo số liệu tính toán thì lượng vũ khí của Mỹ tăng 29% với chu kỳ tinh toán trước, Anh – Nga – Pháp chiếm 6,8%, Đức 6,4% và Trung Quốc 5,2%. 6 nhà buôn vũ khí lớn nhất này chiếm 3/4 toàn thị trường. Lượng nhập khẩu vũ khí của cả khu vực Trung Đông tăng tới 87% trở nên đặc biệt nổi bật trong điều kiện các khu vực khác đều phải giảm bớt nhập khẩu.
Trang tin Sina của Trung Quốc ngày 13.3 đưa tin, từ năm 2016 có 7 công ty Trung Quốc đã lọp vào Top 20 công ty bán vũ khí lớn nhất, trong các năm 2017, 2018 thứ tự xếp hạng của các công ty này tăng lên rõ rệt, theo thống kê của IISS. Các công ty này cũng rất thành đạt trong lĩnh vực xuất khẩu, nếu đem so sánh với một số quốc gia xuất khẩu vũ khí lớn nhất. Hiện có 53 quốc gia là bạn hàng mua vũ khí của Trung Quốc, trong đó có 13 nước đã đặt mua 53 máy bay không người lái vũ trang.
Theo Đa Chiều, 5 năm gần đây, lượng vũ khí xuất khẩu của Trung Quốc gia tăng 38%, còn lượng vũ khí nhập khẩu lại giảm 19%, chất lượng và công năng của các vũ khí xuất khẩu của Trung Quốc đang gia tăng mạnh. Ví dụ: các loại máy bay FC-1, máy bay không người lái Caihong, máy bay huấn luyện KMT-8, pháo tự hành PLZ 45/05, tên lửa chống hạm C-803, xe tăng MBT-2000 và loại xe tăng chủ yếu được trang bị công nghệ cao VT-4 xuất khẩu đã mang lại vị trí khả quan của vũ khí Trung Quốc trong thị trường toàn thế giới.
Tờ Hindustan Times ngày 12.3 đăng bình luận chỉ rõ, tuy Trung Quốc hiện vẫn dựa vào nhập khẩu nhiều loại vũ khí và là nước nhập khẩu vũ khí lớn thứ 6 thế giới, nhưng Trung Quốc hiện là quốc gia xuất khẩu máy bay không người lái vũ trang đứng đầu toàn thế giới.
Tiến sĩ Trần Quang Văn, một nhà bình luận quân sự có tiếng cho biết: chi phí cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật đã chiếm 2% GDP. Điều này đã giúp cho việc ra đời hàng loạt vũ khí tự thiết kế và bản quyền sở hữu trí tuệ, như máy bay tàng hình J-20, Y-20, tàu sân bay 001A, tên lửa DF-41. Tàu lớp 055, tên lửa phóng từ tàu ngầm JL-3 và hệ thống Bắc Đẩu Tinh.
Năng lực thực tế còn nhiều bất cập?
Việc tăng ngân sách quốc phòng với mức độ lớn gây ấn tượng thực lực của quân đội Trung Quốc ngày càng được tăng cường. Tuy nhiên, tờ Giải phóng Quân báo gần đây liên tiếp đăng bài chỉ ra những điểm yếu trong sức chiến đấu của quân đội. Tờ báo phê phán trong một cuộc diễn tập tiểu đoàn hợp thành trong điều kiện số hóa đã xuất hiện “chỉ huy tạm thời hỗn loạn”, 1 tiểu đoàn khác do xử lý thông tin không đúng đã khiến việc cập nhật bản đồ hình thái không theo kịp sự thay đổi chiến trường. Tờ báo tựa hồ tạo nên “hình ảnh một đội quân không nắm chắc chỉ huy cơ bản và không kiểm soát được nhiệm vụ”, “đối lập rõ rệt với hình ảnh một quân đội Trung Quốc khao khát đánh nhau và ngày càng nguy hiểm mà phương Tây đang dựng nên”.
Tờ Đa Chiều cho rằng, nhân tố quan trọng khiến khả năng chiến đấu thực sự của quân đội Trung Quốc khó có thể đánh giá được là sau cuộc chiến tranh với Việt Nam, quân đội Trung Quốc luôn thiếu kinh nghiệm thực chiến. Nói cho cùng, cách tốt nhất để đánh giá sức chiến đấu của một quân đội là thực chiến. Nếu phần lớn chi tiêu đều đổ vào việc hiện đại hóa vũ khí, cho dù tính năng vũ khí ưu việt, nhưng sự thiếu thốn một số công nghệ then chốt sẽ làm cho khả năng thực chiến của chính những vũ khí đó bị hoài nghi...
Ngoài ra,năng lực tổ chức và vấn đề tham nhũng của quân đội cũng là một nhân tố tác động đến chất lượng và sức mạnh chiến đấu. Một số nhà phân tích quân sự phương Tây cho rằng, tài nguyên nhân lực, tổ chức và tham nhũng mấy chục năm nay vẫn luôn tác động đến quân đội Trung Quốc. Gần đây, hàng loạt tướng lĩnh cao cấp bị ngã ngựa cho thấy cuộc chiến chống tham nhũng trong nội bộ quân đội đã giành được tiến triển, nhưng thỉnh thoảng vẫn có tin không được kiểm chứng về tướng này tướng nọ tiếp tục ngã ngựa, cho thấy trong nội bộ quân đội vẫn còn tồn tại hiện tượng tham nhũng. Tham nhũng rõ ràng là nhân tố bào mòn sức chiến đấu của quân đội.

Phản ứng của Việt Nam trước các diễn biến trên đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa

Chiều 14/3, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng trả lời câu hỏi của phóng viên về các diễn biến gần đây ở đảo Thị Tứ, Trường Sa.
Người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng. (Ảnh: Bộ Ngoại giao)
Trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước các diễn biến gần đây ở đảo Thị Tứ thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định:
“Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của mình đối với quần đảo Trường Sa cũng như quần đảo Hoàng Sa theo quy định của luật pháp quốc tế.
Đồng thời Việt Nam cho rằng trong khi cùng tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các tranh chấp tại Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế và để tạo thuận lợi cho tiến trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), các bên liên quan cần tuyệt đối tuân thủ Tuyên bố ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC), đặc biệt là quy định về việc kiềm chế, không có hành vi gây phức tạp và gia tăng tranh chấp, kể cả không có hành vi chiếm đóng những cấu trúc chưa có người ở tại Biển Đông; hành xử có trách nhiệm và có đóng góp thiết thực, tích cực cho hòa bình, ổn định tại khu vực.”
Trước đó, ABS-CBN ngày 5/3 dẫn lời quân đội Philippines cho biết không nhận được báo cáo nào về việc ngư dân bị tàu Trung Quốc ngăn đánh bắt cá hoặc neo đậu ở các cồn cát xung quanh đảo Thị Tứ, thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Trong khi đó Inquirer.net dẫn lời Thị trưởng Kalayaan (thị trấn do Philippines lập ra) Roberto Del Mundo Philippines cho biết các tàu Trung Quốc cố gắng đẩy ngư dân Philippines ra khỏi một số bãi cát gần đảo Thị Tứ, khi ngư dân đến gần bất cứ vị trí nào nằm trong khoảng 3 km tính từ đảo.
Bên cạnh đó, một máy bay ném bom B-52 của Mỹ thực hiện huấn luyện ở vùng lân cận Biển Đông hôm 4/3, theo lực lượng không quân Thái Bình Dương Mỹ.
Thị Tứ là đảo lớn thứ hai trong quần đảo Trường Sa về diện tích tự nhiên. Trung Quốc và Philippines nhiều năm qua tranh chấp và đòi tuyên bố chủ quyền với hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hiện Philippines đang chiếm đóng trái phép hòn đảo này.
Liên quan tới việc các nước trong khu vực tranh chấp và chiếm đóng trái phép các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần tuyên bố, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với các đảo trong quần đảo Trường Sa. Mọi hành vi của quốc gia khác tại hai quần đảo này mà không được sự cho phép của Việt Nam đều là hành vi xâm chiếm trái phép và vi phạm luật pháp quốc tế.

Vì vụ Mạnh Vãn Chu, TQ và Canada ăn miếng trả miếng về mậu dịch

Ngày 1.3 vừa qua, Trung Quốc đã thu hồi giấy phép xuất khẩu hạt cải dầu của công ty Richardson International sang thị trường Trung Quốc với cớ “có vật gây hại hoặc vi khuẩn”. Sau khi Trung Quốc tuyên bố cấm nhập khẩu hạt cải dầu của Canada, phía Canada cũng đáp trả bằng cách tuyên bố không cho phép nhập khẩu thịt lợn và mọi sản phẩm chế biến từ thịt lợn của Trung Quốc. Quan hệ giữa hai nước vốn đã căng thẳng sau sự kiện bà Mạnh Vãn Chu – CFO của Công ty Huawei bị cảnh sát bắt giữ hôm 1.12.2018 theo yêu cầu của Mỹ - nay lại càng trở nên tồi tệ, đã lan sang lĩnh vực thương mại.
Những nông dân trồng cải dầu, ngành nông nghiệp và kinh tế Canada sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng trước quyết định cấm nhập hạt cải dầu của hải quan Trung Quốc.
Ngày 6.3, Công ty Richardson International – hãng xuất khẩu hạt cải dầu lớn nhất của Canada đã xác nhận thông tin họ bị Tổng cục Hải quan Trung Quốc hủy bỏ tư cách xuất khẩu sản phẩm sang nước này và nói hành động này của phía Trung Quốc có thể giáng đòn mạnh vào nền kinh tế Canada. Một hòn đá ném xuống nước gây nên bao lớp sóng, truyền thông và giới chính khách trong nước Canada liên tiếp đưa tin và bình luận về sự kiện; hầu hết đều đánh giá đây chỉ là hành động trả thù của Trung Quốc với Canada về vụ bắt giữ Mạnh Vãn Chu.
Ngày 6.3, tại cuộc họp báo định kỳ, Lục Khảng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc giải thích việc chính phủ Trung Quốc đưa ra quyết định chặn cửa đối với hạt cải dầu của Công ty Richardson International là có căn cứ. Ông nói: “Qua tìm hiểu, gần đây hải quan Trung Quốc nhiều lần tìm thấy sinh vật có hại nguy hiểm trong hạt cải dầu nhập khẩu từ Canada; trong đó kiểm định thấy hạt của một công ty đặc biệt nghiêm trọng. Trong tình hình đó, hải quan Trung Quốc căn cứ quy định pháp luật liên quan và tập quán quốc tế, đã đưa ra quyết định tạm ngừng nhập khẩu. Đây là quyết định hoàn toàn hợp tình hợp lý và hợp pháp”.
Trái ngược với quan điểm của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ngày 5.3, bà Marie-Claude Bibeau, Bộ trưởng Nông nghiệp Canada tuyên bố: “Sau khi nhận được thông báo từ phía Trung Quốc về sản phẩm hạt cải phạm quy, cơ quan kiểm định thực phẩm Canada đã điều tra và chứng thực: không hề phát hiện thấy sự tồn tại của bất cứ sinh vật hay vi khuẩn có hại nào trong hạt cải dầu”.
Canada là quốc gia sản xuất và xuất khẩu hạt cải dầu lớn, có sản lượng hạt cải đứng thứ 2 thế giới, chỉ đứng sau EU; nghề trồng cải dầu mỗi năm đem về cho nền kinh tế Canada 26,7 tỷ dollar Canada (tức 19,9 tỷ USD), 250 ngàn việc làm. Điều quan trọng hơn là, Trung Quốc là khách hàng lớn của cải dầu Canada, mỗi năm Canada xuất khẩu lượng hạt cải trị giá 5 tỷ dollar Canada (25 tỷ NDFT), một nửa số đó được bán sang Trung Quốc. Trung Quốc là thị trường hàng đầu đối với hạt cải dầu Canada, loại hạt sẽ được nghiền thành dầu thực vật và bột thức ăn chăn nuôi. Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này đã nhập khẩu 4,5 triệu tấn hạt cải dầu, trị giá 1,9 tỉ USD trong năm 2017.
Theo Công ty Richardson International, do Trung Quốc hủy bỏ giấy phép xuất khẩu của họ, những nông dân trồng cải dầu của Canada cũng sẽ đối diện với vấn đề sản phẩm dư thừa nghiêm trọng. Qua đó có thể thấy việc công ty này bị Trung Quốc chặn ngoài cửa là một đòn nặng nề đến mức nào đối với Canada và cũng là nguyên nhân gây nên làn sóng bất bình trong dư luận Canada. Ông Jean-Marc Ruest, trưởng ban pháp chế của công ty, cho biết động thái này hàm chứa một động cơ chính trị. “Chúng tôi là nhà xuất khẩu lớn nhất của Canada. Chúng tôi có từ lâu đời và sở hữu toàn bộ công ty”, ông nói. “Nếu nó liên quan đến tranh chấp sâu sắc hơn giữa Canada và Trung Quốc, tôi đoán chúng tôi đã trở thành một mục tiêu của họ”.
Tờ Sohu của Trung Quốc cho rằng, ngành nghề trồng cải dầu chỉ là một bộ phận nhỏ của nông nghiệp Canada, nhưng việc Trung Quốc ra đòn cấm nhập khẩu đã gây nên sóng gió lớn trong nước, điều này đủ để chứng minh Canada đang lo sợ bị mất đi thị trường Trung Quốc. Báo này nhận định, trước khi trở thành “tay súng” của Mỹ nhắm vào Huawei, Canada rất mong muốn tăng cường quan hệ mậu dịch với Trung Quốc. Sau khi ký Hiệp định mậu dịch Mỹ - Mexico – Canada (USMCA), Canada đã ý thức được việc họ trở thành bên thua thiệt nên thông qua việc ký Hiệp định mậu dịch tự do Trung Quốc – Canada để có thể giảm bớt sự phụ thuộc vào thị trường Mỹ.
Sau khi xảy ra sự kiện Mạnh Vãn Chu, quan hệ mậu dịch Trung Quốc – Canada bỗng chốc trở nên băng giá khiến nhiều người trong chính phủ Canada rất lo ngại. Cuộc đàm phán về một hiệp định mậu dịch tự do với Trung Quốc mà Canada mong muốn từ lâu bỗng bị lâm vào tình trạng đình trệ; quan hệ mậu dịch với Trung Quốc bị phủ bóng mây đã khiến kinh tế Canada xảy ra nhiều nhân tố “không xác định”. Ví dụ, sau khi xảy ra sự kiện Huawei, giá cổ phiếu của Canada Goose Holdings Inc. - một công ty cổ phần của Canada chuyên sản xuất quần áo mùa đông nhãn hiệu nổi tiếng Canada Goose chỉ trong vòng 3 ngày đã bị mất đứt 16%, hay 8 tỷ NDT.
Ngày 6.3, Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland tuyên bố: “Tôi cực kỳ quan ngại về những gì đã xảy ra với Tập đoàn Richardson. Chúng tôi không tin rằng có bất kỳ cơ sở khoa học nào cho những quyết định như vậy. Chúng tôi đang tích cực làm việc với Chính phủ Trung Quốc về vấn đề này”. Đáp lại, cùng ngày người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lục Khảng nói tại cuộc họp báo: “Quyết định của chính phủ Trung Quốc dựa trên những cơ sở vững chắc. Cũng như các quốc gia khác, chúng tôi có quyền bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người dân”.
Trước một động thái được cho là sự trả thù tiếp theo cho sự kiện Mạnh Vãn Chu của phía Trung Quốc sau khi bắt giữ 2 công dân Canada vì lý do “xâm hại an ninh quốc gia” và tử hình một người khác về tội vận chuyển ma túy sau phiên tòa phúc thẩm’; ngày 11.3, Cục Kiểm định thực phẩm Canada (CFIA) đã đăng tải trên trang web cơ quan này văn bản tuyên bố: Canada sẽ không nhập khẩu thịt lợn và mọi sản phẩm chế biến từ thịt lợn của quốc gia đã bị chính thức xác nhận có dịch tả lợn châu Phi. Trong thời gian xảy ra dịch bệnh này ở Trung Quốc, Canada sẽ cấm nhập khẩu thịt lợn, chế phẩm thịt lợn, bao gồm cả tinh dịch lợn và bào thai lợn từ Trung Quốc.
Xem xét các số liệu, số lượng sản phẩm thịt lợn Canada nhập của Trung Quốc không nhiều, trái lại số thịt lợn Trung Quốc nhập của Canada còn nhiều hơn. Năm 2016, số sản phẩm thịt lợn Canada nhập của Trung Quốc chỉ trị giá 7,6 triệu dollar Canada, chiếm 0,6% tổng lượng sản phẩm thịt lợn mà nước này nhập khẩu; từ quý I.2017, Canada còn vượt Mỹ, trở thành nước Bắc Mỹ xuất khẩu thịt lợn nhiều nhất cho Trung Quốc. Năm 2017, Canada đã xuất khẩu sang Trung Quốc 306.083 tấn sản phẩm thịt lợn trị giá 570 triệu dollar Canada khiến Trung Quốc trở thành thị trường tiêu thụ thịt lợn Canada đứng thứ 3 sau Mỹ và Nhật. Năm 2017 Canada xuất khẩu sản phẩm thịt lợn đạt 4 tỷ USD, thị trường Trung Quốc chiếm 14%.
Vì vậy, quyết định cấm nhập khẩu sản phẩm thịt lợn Trung Quốc của chính phủ Canada có lẽ chỉ mang ý nghĩa tượng trưng, thể hiện lập trường cứng rắn đôívới Trung Quốc mà thôi, chứ không có mấy giá trị thực tiễn.

Powered by Blogger.