Hải Ngoại Ngày Nay


LIÊN KẾT HẢI NGOẠI YỂM TRỢ QUỐC NỘI ĐẤU TRANH

GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI VIỆT CỘNG

GIẢi TRỪ HIỂM HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG

19 nghị sĩ Mỹ kêu gọi chấm dứt chiến tranh Triều Tiên

Saturday, March 2, 2019 // ,
Các hạ nghị sĩ Đảng Dân chủ nhận định tình trạng chiến tranh với Triều Tiên là mối đe dọa lớn cho Mỹ và các đồng minh trong khu vực.
Một nhóm hạ nghị sĩ Mỹ gồm 19 người ngày 26/2 trình dự thảo nghị quyết yêu cầu chính quyền Tổng thống Donald Trump công bố "lộ trình rõ ràng để đạt được hòa bình và phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo Triều Tiên", theo Hill. Dự thảo này được đưa ra vào thời điểm Tổng thống Trump đang ở Việt Nam để dự hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều lần hai.
Các nghị sĩ Mỹ nhận định sự tồn tại của tình trạng chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên là mối đe dọa thường trực đối với an ninh Mỹ và đồng minh, kêu gọi Tổng thống Trump sớm tuyên bố chấm dứt tình trạng này và sớm có "cam kết ngoại giao nghiêm túc, khẩn cấp".
"Cuộc gặp gỡ lịch sử giữa các lãnh đạo hai miền Triều Tiên tạo ra cơ hội có một không hai trong hàng thập kỷ để chính thức chấm dứt chiến tranh Triều Tiên. Tổng thống Trump không được bỏ phí cơ hội hòa bình hiếm có này. Tổng thống Trump nên bắt tay với Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in, đồng minh chúng ta để khép lại cuộc chiến và tiến đến mục tiêu phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên", Ủy viên Ủy ban Quân vụ Hạ viện Mỹ Ro Khanna phát biểu khi trình dự thảo lên Hạ viện Mỹ.
Các hạ nghị sĩ Mỹ kêu gọi chính quyền Trump tích cực hơn trong hoạt động hồi hương hài cốt binh sĩ Mỹ chết trong chiến tranh Triều Tiên, hợp tác nhân đạo và hỗ trợ hoạt động đoàn tụ những gia đình ly tán trong cuộc chiến này. Tuy nhiên các hạ nghị sĩ cho rằng việc chấm dứt tình trạng chiến tranh với Triều Tiên không đồng nghĩa với việc Mỹ rút 28.000 binh sĩ đóng quân tại Hàn Quốc hoặc công nhận Triều Tiên là quốc gia hạt nhân.
Chiến tranh Triều Tiên kết thúc năm 1953 với thỏa thuận ngừng bắn, chứ không phải định hòa bình. Ước tính 2,5 triệu người dân hai miền bán đảo Triều Tiên thương vong trong cuộc chiến này. Triều Tiên và Hàn Quốc ký thỏa thuận hòa bình lịch sử tháng 9/2018 với cam kết phi quân sự hóa biên giới liên Triều, mở tuyến đường vận tải giữa hai miền, hợp tác kinh tế và liên lạc với các gia đình bị chia cắt sau chiến tranh.

Thượng đỉnh Trump-Kim và bài học của Việt Nam cho Triều Tiên

Khi Kim Jong-un tới Hà Nội để dự hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai với Tổng thống Mỹ Donald Trump trong tuần này, ông sẽ không chỉ tìm kiếm một thỏa thuận với Mỹ về vấn đề hạt nhân của Triều Tiên. Rốt cuộc, một thỏa thuận như vậy sẽ chỉ là công cụ để Kim đưa Triều Tiên thoát khỏi sự cô lập và trừng phạt quốc tế để cải cách đất nước nghèo đói của mình, điều này sẽ giúp nhà lãnh đạo 35 tuổi duy trì sự cai trị của mình trong nhiều thập niên tới. Do đó, hội nghị lần này và chuyến thăm song phương tới Việt Nam mang đến cho Kim một trải nghiệm hiếm hoi về những gì có thể là một nguồn kinh nghiệm hữu ích cho các kế hoạch tương lai của ông nhằm cải cách đất nước.
Triều Tiên ngày nay mang nhiều nét tương đồng với Việt Nam trước khi mở cửa và áp dụng cải cách thị trường, còn gọi là chính sách Đổi mới, vào cuối những năm 1980. Trước đó, giống như  Triều Tiên ngày nay, Việt Nam là một nền kinh tế chỉ huy bị chi phối bởi các doanh nghiệp nhà nước yếu kém, phải đối mặt với tình trạng nghèo đói và kém phát triển rộng khắp do chi tiêu quá mức cho quốc phòng và các lệnh trừng phạt quốc tế nặng nề vì gửi quân vào Campuchia. Sau 30 năm cải cách, Việt Nam đã tăng quy mô nền kinh tế hơn 30 lần, trở thành một trong những nền kinh tế mở nhất thế giới với tổng kim ngạch thương mại gấp đôi GDP và thoát khỏi tình trạng thu nhập thấp vào năm 2010.
Quan trọng hơn, mặc dù Việt Nam không bị cai trị bởi một cá nhân lãnh đạo tập quyền như Kim, nhưng hệ thống độc đảng do Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) thống trị phần lớn tương đồng với Bắc Triều Tiên, nơi Đảng Lao động Triều Tiên của Kim đang nắm quyền lực độc tôn. Những cải cách kinh tế trong ba thập niên qua đã củng cố sự cai trị của ĐCSVN bằng nhiều cách, trong đó có việc nâng cao tính chính danh cho Đảng ở trong nước lẫn quốc tế. Vì Kim Jong-un rất lo lắng cho an ninh của bản thân cũng như chế độ của mình, các bài học của ĐCSVN có thể được ông quan tâm.
Về đối ngoại, Việt Nam cũng từng là kẻ thù không đội trời chung với Hoa Kỳ, và mãi đến năm 1994, Washington mới dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam để mở đường cho bình thường hóa quan hệ một năm sau đó. Kể từ đó, quan hệ song phương liên tục được củng cố đến mức hai nước gần như trở thành “bán đồng minh”. Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất Việt Nam và là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ mười một, trong khi Việt Nam đang trở thành thị trường xuất khẩu ngày càng thiết yếu đối với các công ty Mỹ và là đối tác quan trọng trong chiến lược an ninh khu vực của Washington.
Trong bối cảnh Kim Jong-un đang mong muốn cải thiện quan hệ với Mỹ và tiến hành cải cách kinh tế, Việt Nam là một mô hình hợp lý hơn so với Trung Quốc để Kim có thể tham khảo. Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn với 1,5 tỷ dân, tạo cho Đảng Cộng sản Trung Quốc dư địa nhằm thực hiện một số chính sách mà các quốc gia nhỏ hơn nhiều như Triều Tiên và Việt Nam không thể có được. Quan trọng hơn, Triều Tiên sẽ không muốn tỏ ra phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc bằng cách áp dụng mô hình của nước này, vì một sự phụ thuộc như vậy không chỉ khiến Triều Tiên dễ bị tổn thương trong dài hạn mà còn cản trở nỗ lực bình thường hóa quan hệ với Mỹ, nước ngày càng xem Trung Quốc như một mối đe dọa.
Theo nhiều cách, vấn đề hạt nhân đối với Triều Tiên cũng tương tự như vấn đề Campuchia đối với Việt Nam trong những năm 1980. Việt Nam đã phải trải qua những khó khăn rất lớn để giải quyết vấn đề Campuchia trước khi có thể thoát khỏi các lệnh trừng phạt quốc tế và đạt được những bước đột phá trong đàm phán bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Tương tự, Triều Tiên sẽ phải giải quyết vấn đề hạt nhân trước khi Washington có thể đưa ra những “phần thưởng” cho quốc gia này. Hội nghị thượng đỉnh Trump-Kim lần thứ hai có thể được coi như một bước đi tiếp theo mà Kim thực hiện để đạt được mục tiêu đó.
Với các lợi ích lớn mà hai bên đưa ra mặc cả, việc kỳ vọng vấn đề hạt nhân của Triều Tiên sẽ được giải quyết chỉ sau vài vòng đàm phán là không thực tế. Tuy nhiên, có những lý do để tin rằng hai bên sẽ cố gắng đạt được một số kết quả có ý nghĩa khi gặp nhau tại Hà Nội tuần này. Vì đây là hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai, họ muốn có một số kết quả cụ thể để cho thấy sự tiến bộ trong các cuộc đàm phán song phương. Kim cần một kết quả tích cực để thể hiện thiện chí của mình và tạo điều kiện cho các cuộc đàm phán tiếp theo với Mỹ, trong khi Trump cần một phần thưởng để đóng góp vào bộ sưu tập di sản đối ngoại của mình, đồng thời củng cố vị thế trong nước trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2020. Như vậy, một định nghĩa rõ ràng hơn về khái niệm “phi hạt nhân hóa” có thể là một trong những kết quả mà hai bên hướng tới. Hoặc hai bên có thể cố gắng đưa ra một tuyên bố chấm dứt chính thức Chiến tranh Triều Tiên, cuộc chiến mà về mặt kỹ thuật vẫn chưa kết thúc vì giao tranh chấm dứt vào năm 1953 theo một thỏa thuận đình chiến thay vì một hiệp ước hòa bình.
Bất kể hội nghị thượng đỉnh lần này mang lại kết quả ra sao, Kim vẫn có thể muốn quan tâm tới một bài học khác từ Việt Nam trong ứng xử với Hoa Kỳ. Một số lãnh đạo ĐCSVN từng rất lo ngại về ý định của Hoa Kỳ nhằm lật đổ chế độ của họ thông qua chính sách mà họ gọi là “diễn biến hòa bình”, một kế hoạch khuyến khích cải cách kinh tế và chính trị theo hướng tự do tại Việt Nam, điều cuối cùng sẽ làm xói mòn sự cai trị của ĐCSVN. Để làm dịu mối lo đó, Việt Nam đã nhất quyết đòi đưa vào bản tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác toàn diện song phương với Mỹ năm 2013 một cam kết rằng hai bên sẽ tôn trọng lợi ích chính trị của nhau, ngụ ý rằng Hoa Kỳ sẽ từ bỏ mọi nỗ lực nhằm lật đổ chế độ của ĐCSVN.
Triều Tiên có thể muốn đạt được một cam kết tương tự từ Mỹ ngay tại hội nghị thượng đỉnh Trump – Kim lần thứ hai, ngay cả khi như trường hợp của Việt Nam cho thấy, việc lật đổ các chế độ như của Kim hay ĐCSVN không phải là lợi ích của Washington, đặc biệt là trong bối cảnh Đông Á . Lợi ích tối quan trọng của Washington bây giờ và trong nhiều thập niên tới chính là ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc. Giống như một Việt Nam ngày càng trở nên độc lập so với Trung Quốc kể từ sau Đổi Mới, một Triều Tiên cải cách mạnh mẽ và độc lập sẽ phục vụ cho lợi ích chiến lược của Mỹ tốt hơn nhiều so với một Triều Tiên nghèo đói và phụ thuộc vào Trung Quốc. Tuy nhiên, một cam kết như vậy sẽ giúp Kim tự tin hơn để buông bỏ kho vũ khí hạt nhân của mình, và giúp Trump có cơ hội thể hiện sự chân thành trong đàm phán với Triều Tiên.

Từ Thượng đỉnh Mỹ-Triều nghĩ về vị thế Việt Nam

Ông đánh giá thế nào về khả năng cải thiện mối quan hệ Mỹ – Triều sau Hội nghị lần này? Liệu sẽ có được một bước ngoặt thật sự cho vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn thế giới hiện nay?
Quan hệ Mỹ – Triều đang có những tiến triển suốt hơn một năm vừa qua do cả hai bên đều có nhu cầu thực sự trong việc cải thiện quan hệ song phương. Đối với Triều Tiên, quan hệ tốt hơn với Mỹ sẽ giúp nước này thoát khỏi trình trạng bị bao vây, cô lập, mở đường cho việc có quan hệ thương mại, tài chính với các nước trên thế giới cũng như các thể chế tài chính quốc tế, giúp họ cải cách và phát triển đất nước, giữ vững thể chế chính trị.
Đối với Mỹ, hóa giải được vấn đề Triều Tiên sẽ giúp đảm bảo an ninh cho Mỹ và các đồng minh, giúp Mỹ có thể tập trung nguồn lực vào các ưu tiên an ninh và đối ngoại lớn hơn, đặc biệt là vấn đề Trung Quốc.
Chính vì vậy, hội nghị Mỹ – Triều lần này là một cơ hội thuận lợi để hai bên đạt được những tiến triển tích cực trong đàm phán song phương. Tuy nhiên, mặc dù lạc quan nhưng chúng ta cần nhận thấy rằng không dễ để có được sự đột phá nhanh chóng, nhất là về vấn đề giải trừ hạt nhân của Triều Tiên, do quan điểm hai bên vẫn còn khá nhiều khác biệt.
– Theo ông, liệu các bên đàm phán có thể đưa tới thỏa thuận giải trừ hạt nhân hoàn toàn trên bán đảo Triều Tiên?
Cho tới gần đây Mỹ muốn Triều Tiên tiến hành phá hủy chương trình hạt nhân của họ một cách toàn diện, có thể kiểm chứng được và không thể đảo ngược trước khi được dỡ bỏ các lệnh cấm vận, trong khi Triều Tiên muốn một lộ trình có đi có lại, với mỗi bước đi của mình trong việc dỡ bỏ chương trình hạt nhân được đáp lại với những biện pháp tương ứng của Hoa Kỳ nhằm đáp ứng các nguyện vọng của Triều Tiên. Ngoài ra, khái niệm “phi hạt nhân hóa” bán đảo Triều Tiên vẫn chưa được xác định một cách rõ ràng.
Chính vì vậy, tôi cho rằng tại cuộc họp lần này, hai bên sẽ cố gắng có những tiến bộ nhất định, nhưng chắc chắn một thỏa thuận nhằm giải trừ hạt nhân hoàn toàn trên bán đảo Triều Tiên là điều chưa thể xảy ra ngay lúc này. Trước mắt, hai bên có thể muốn đưa ra một định nghĩa rõ ràng hơn cho khái niệm “phi hạt nhân hóa” bán đảo Triều Tiên, hay đặt ra một số bước đi cụ thể để cải thiện quan  hệ song phương, như thiết lập văn phòng liên lạc tại thủ đô mỗi nước chẳng hạn.
– Theo ông, Trung Quốc có được xem là “đối tác vô hình” tại cuộc đàm phán lần này? Vai trò của Trung Quốc như thế nào trong mối quan hệ Mỹ – Triều nói chung và tại Hội nghị này nói riêng?
Trung Quốc từ lâu là đồng minh chiến lược của Triều Tiên, và Triều Tiên phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc, đặc biệt là về kinh tế. Về an ninh, Trung Quốc vừa lo ngại về việc Triều Tiên có vũ khí hạt nhân, vừa sợ rằng nếu Triều Tiên từ bỏ hạt nhân, mở cửa kinh tế và bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Hàn Quốc, thì Triều Tiên sẽ trở nên độc lập, thậm chí trở nên gần gũi với Hoa Kỳ. Như vậy, Trung Quốc sẽ giảm ảnh hưởng tại Triều Tiên, và thậm chí nếu về lâu dài bán đảo Triều Tiên thống nhất thì có thể trở thành một thách thức an ninh đối với nước này.
Chính vì vậy, mặc dù về mặt chính thức thì Trung Quốc ủng hộ đàm phán Mỹ – Triều, nhưng về mặt thực dụng thì chắc chắn suy nghĩ, tính toán của họ phức tạp hơn. Có thể họ muốn Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân nhưng không muốn Triều Tiên đi quá nhanh trong việc cải thiện quan hệ với Mỹ. Đặc biệt, họ sẽ không muốn có một bán đảo Triều Tiên thống nhất mà ở đó quân đội Mỹ đồn trú ngay cạnh biên giới với mình.
– Việt Nam từ lâu đã đưa ra thông điệp “là thành viên tích cực, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” nhưng có ý kiến cho rằng, đó chỉ là chủ trương của phía Việt Nam. Thế nhưng qua một loạt các hoạt động, đóng góp rất chủ động, tích cực và hiệu quả của Việt Nam gần đây vào công việc chung của không chỉ khu vực mà cả thế giới, mà cụ thể lần này là địa điểm được chọn để tổ chức Thượng đỉnh Mỹ – Triều lần 2 đã minh chứng vai trò của Việt Nam, sự tin cậy của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Ông bình luận gì về điều này?
Những sự kiện như thế này có ý nghĩa gấp nhiều lần những khẩu hiệu, các văn kiện… Nó là hành động thực tiễn, và nó xuất phát từ sự lựa chọn của hai bên Mỹ – Triều, thể hiện sự thừa nhận của hai bên đối với vai trò và vị thế của Việt Nam. Trong quan hệ quốc tế, vai trò của một quốc gia không đến từ nỗ lực tuyên truyền của một quốc gia, mà đến từ sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế dành cho vai trò của quốc gia đó.
Vì vậy, sự kiện lần này là một dịp ý nghĩa để Việt Nam xác tín với cộng đồng quốc tế về nguyện vọng của mình nhằm đóng góp cho hòa bình và thịnh vượng thế giới, vừa thể hiện vai trò đó một cách thực tế mà không cần quá nhiều sự tuyên truyền phô trương. Điều quan trọng là Việt Nam cần làm gì tiếp theo để tiếp tục duy trì được uy tín và vai trò đó trong tương lai.
– Việt Nam nên tận dụng cơ hội này như thế nào trong việc xây dựng hình ảnh của mình như là một điểm đến của hòa bình quốc tế. Theo ông, Việt Nam sẽ hưởng lợi ra sao khi thành nước chủ nhà của Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-Triều lần hai?
Với việc được chọn là nơi tổ chức hội nghị lần này, Việt Nam thể hiện là một quốc gia có uy tín và vai trò ngày càng lớn trên trường quốc tế, đồng thời đây cũng là một dịp quan trọng để Việt Nam quảng bá hình ảnh về một đất nước thanh bình, tươi đẹp, năng động và hiếu khách tới cộng đồng quốc tế, qua đó thu hút thêm khách du lịch và dòng vốn đầu tư.
Trong hội nghị, Việt Nam cần tận dụng cơ hội bằng cách đưa các các clip quảng bá du lịch, đầu tư lên các kênh truyền thông quốc tế, vừa phối hợp với hai bên, đặc biệt là Triều Tiên, để đưa vào chương trình hội nghị hay chuyến thăm song phương của ông Kim Jong-un các hoạt động có lợi cho hình ảnh Việt Nam, ví dụ như việc ông Kim tới thăm các danh lam thắng cảnh, các nhà máy, khu công nghiệp, hay các dự án cơ sở hạ tầng tiêu biểu thể hiện sự đổi mới năng động của Việt Nam. Những hoạt động như vậy sẽ  giúp tối đa hóa lợi ích mà chúng ta thu được từ sự kiện này.
– Một số nhà bình luận đã hàm ý về các khái niệm “Ngoại giao Trung gian” hay “Ngoại giao Hòa giải” ở Việt Nam khi vị thế và vai trò của Việt Nam ngày càng được nâng cao trong khu vực và thế giới. Ông đánh giá thế nào về nhận xét này?
Hiện vẫn còn quá sớm để nói về mục tiêu đó, bởi đây mới là lần đầu tiên Việt Nam tổ chức một sự kiện như vậy. Nhưng thực hiện vai trò “ngoại giao hòa giải” hay “ngoại giao trung gian” không phải là một điều quá xa vời đối với Việt Nam, nếu xét lịch sử của Việt Nam, hay những nỗ lực đóng góp cho hòa bình thế giới của Việt Nam trong thời gian gần đây  như tham gia vào các sứ mệnh gìn giữ hòa bình của LHQ hay việc tổ chức hội nghị Mỹ – Triều lần này. Nhưng chúng ta cần tránh chỉ hô khẩu hiệu mà phải có những sáng kiến, sáng tạo trong cách làm, để hướng tới mục tiêu đó.
– Ông từng nhắc đến khái niệm “cường quốc hạng trung”, theo ông, các sự kiện như thế này sẽ có lợi cho Việt Nam thế nào trong dài hạn và sau Hội nghị, chúng ta cần tiếp tục làm gì để tiếp tục nâng cao vị thế và hình ảnh của mình?
Đúng vậy, sự kiện này là một ví dụ tiêu biểu cho chính sách ngoại giao năng động, tích cực của Việt Nam, thể hiện rõ nét một trong những vai trò của một “cường quốc hạng trung” mà Việt Nam đang hướng tới, đó là đóng góp vào kiến tạo hòa bình và thịnh vượng cho thế giới.
Về lâu dài, để hướng tới mục tiêu “cường quốc hạng trung”, ngoài việc tiếp tục đổi mới, phát triển nội lực, về đối ngoại Việt Nam cần tiếp tục nâng cao vai trò quốc tế của mình bằng cách đóng góp phù hợp với nguồn lực của mình cho các mục tiêu quốc tế.
Ví dụ, dựa vào dư âm từ sự kiện này, Việt Nam nên cân nhắc chủ động vận động để trở thành nơi tổ chức các cuộc đàm phán hòa bình giữa các bên có xung đột trong khu vực cũng như trên thế giới. Hoặc trước mắt, đàm phán Mỹ – Triều chắc chắn sẽ còn nhiều vòng khác nữa, Việt Nam cũng có thể đề nghị hai bên tiếp tục tổ chức một số hội nghị tiếp theo ở Việt Nam khi phù hợp.

Thượng đỉnh Hà Nội nên được đánh giá như thế nào?

Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un hiện đang họp tại Hà Nội, Việt Nam, trong hội nghị thượng đỉnh song phương lần hai. Khi đánh giá kết quả, những người lạc quan và những người bi quan nên tập trung vào ba tiêu chí: tiến bộ không thể đảo ngược hướng tới việc đạt được một giải pháp hòa bình chính thức, phi hạt nhân hóa, và tiềm năng giúp chế độ Triều Tiên thay đổi.
Nhìn lại, một điều mà chính sách ngoại giao không thành công trong 25 năm qua đã dạy chúng ta đó là phi hạt nhân hóa sẽ không xảy ra nếu không chấm dứt sự thù địch giữa Hoa Kỳ và Triều Tiên. Một chính sách gây áp lực và răn đe mà không đi kèm can dự chính trị đã được chứng minh là gây ra sự mất lòng tin và khiến Triều Tiên nhiều lần từ bỏ các thỏa thuận.
May mắn thay, cả Trump và Kim đều cho thấy tín hiệu sẵn sàng tiến tới mối quan hệ song phương hòa bình hơn và đã có báo cáo trước hội nghị thượng đỉnh Hà Nội cho thấy Trump sẽ đồng ý với Kim đưa ra một tuyên bố chính thức chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên. Nhưng bình thường hóa quan hệ hoàn toàn sẽ cần thêm thời gian. Sau khi cố vấn an ninh quốc gia Hoa Kỳ Henry Kissinger bí mật tới thăm Bắc Kinh năm 1971, phải mất thêm 8 năm trao đổi ngoại giao Hoa Kỳ mới bình thường hóa được mối quan hệ thù địch với Trung Quốc, với việc Tổng thống Jimmy Carter công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về mặt ngoại giao năm 1979.
Ngoại giao với chế độ của Kim đòi hỏi một mức độ kiên nhẫn như vậy. Tối thiểu, một tuyên bố chung tuyên bố chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên sẽ cho phép hai bên mở các văn phòng liên lạc của mỗi nước ở Bình Nhưỡng và Washington. Đó là một sự tiến bộ không hề nhỏ.
Tất nhiên, vẫn còn có nhiều tranh luận về chi phí và lợi ích tiềm năng của một tuyên bố hòa bình, khi một số người lo ngại rằng nó sẽ làm suy yếu liên minh của Mỹ với Hàn Quốc. Nhưng miễn là Hàn Quốc và Mỹ chia sẻ tầm nhìn về tương lai liên minh, họ có thể thực hiện các bước để đảm bảo rằng tuyên bố hòa bình trở thành nguồn mang lại sự ổn định thay vì bất định. Đã trưởng thành gần bảy thập niên qua, liên minh Mỹ-Hàn đủ vững mạnh để có thể thích nghi với môi trường quốc tế mới được hình thành bởi một Triều Tiên phi hạt nhân hóa và hòa bình.
Về phi hạt nhân hóa, nhiều người kỳ vọng rằng Kim sẽ sớm mời các thanh sát viên quốc tế xác nhận rằng chế độ của ông đã phá bỏ một cách không thể đảo ngược cơ sở thử nghiệm hạt nhân Punggye-ri và khu thử nghiệm động cơ tên lửa Tongchang-ri. Điều này cũng sẽ đại diện cho một tiến bộ có ý nghĩa. Nhưng một tiêu chí quan trọng hơn nữa để đánh thành công sẽ là việc ngừng hoạt động của Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Yongbyon. Một số học giả đã mô tả cơ sở này là tồi tàn và không còn có giá trị. Nhưng một nhà khoa học hạt nhân hàng đầu đã đến thăm Yongbyon bốn lần đã nói với tờ Washington Post gần đây rằng ông coi nó là “trung tâm của chương trình hạt nhân của họ”, và là “một vấn đề hết sức quan trọng”.
Phá bỏ cơ sở Yongbyon dưới sự giám sát của các thanh sát viên quốc tế sẽ tạo tiền lệ quan trọng cho việc phá bỏ các địa điểm vẫn còn bí mật khác trong tương lai. Và việc Kim đồng ý đóng băng sản xuất vật liệu phân hạch cùng một lộ trình đàm phán tương lai sẽ buộc những người bi quan phải thừa nhận rằng hội nghị thượng đỉnh là một thành công, và rằng một cách tiếp cận thực dụng hơn của Hoa Kỳ – theo hướng có đi có lại – đã dẫn đến ít nhất một số tiến bộ hướng tới mục tiêu phi hạt nhân hóa.
Câu hỏi cuối cùng là liệu chính chế độ Triều Tiên có thay đổi được hay không. Đáp ứng hai tiêu chí đầu tiên sẽ tạo điều kiện cho Kim tiến dần tới một mô hình phát triển độc đảng, như Việt Nam hay Trung Quốc đã làm. Việc Kim có đang tích cực xem xét một quá trình chuyển đổi như vậy hay không vẫn chưa chắc chắn. Nhưng điều đáng chú ý là trong khi Kim chưa cho phép tư nhân hóa các phương tiện sản xuất, ông đã cho phép thị trường đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong nền kinh tế Triều Tiên hiện nay so với dưới thời cha và ông của ông.
Ví dụ, sự trỗi dậy của Donju, một tầng lớp giàu có mới, đã thay đổi động lực của nền kinh tế chính trị Triều Tiên, và định hình lại mối quan hệ giữa chế độ và người dân. Kim Jong-il đã cố gắng đàn áp tầng lớp mới này bằng một cuộc cải cách tiền tệ thất bại vào tháng 11 năm 2009. Nhưng con trai ông dường như đã chấp nhận họ, hoặc một cách chủ động, hoặc vì các động lực chính trị nội bộ và các lệnh trừng phạt quốc tế ngày càng khắc nghiệt buộc ông phải chấp nhận thay đổi đó.
Nhìn về phía trước, mọi chuyện phần lớn sẽ phụ thuộc vào việc Mỹ và các nước giàu khác có đồng ý giúp Kim trở thành nhà lãnh đạo phát triển kiểu như Đặng Tiểu Bình, kiến ​​trúc sư của quá trình mở cửa Trung Quốc sau năm 1978, hay không. Nếu đó thực sự là con đường mà Kim muốn đi, không có lý do chính đáng nào để cộng đồng quốc tế cản đường ông ta. Mà ngược lại, chúng ta nên tìm ra những biện pháp khuyến khích cụ thể để giúp Kim thực hiện các kế hoạch của mình.
Để hướng tới mục đích đó, có người hy vọng rằng Trump sẽ đưa ra động thái trước bằng cách đưa ra lộ trình gỡ bỏ các biện pháp trừng phạt kinh tế theo từng giai đoạn để đổi lấy các bước đi chân thành của Triều Tiên hướng tới việc phi hạt nhân hóa. Hơn nữa, nếu nới lỏng các lệnh trừng phạt, việc tiếp tục cho phép tiến hành các dự án phát triển liên Triều nên là ưu tiên hàng đầu.
Ngoài ra, các tổ chức tài chính đa phương sẽ cần hướng dẫn các quan chức và sinh viên Triều Tiên về cơ chế hoạt động của tài chính quốc tế và nền kinh tế thị trường. Trên thực tế, điều này khá cấp bách, vì nếu không có kiến ​​thức cần thiết, việc chuyển đổi kinh tế của Triều Tiên sẽ không bao giờ được thực hiện. Nếu hội nghị thượng đỉnh Hà Nội bao gồm một thỏa thuận để tạo điều kiện cho trao đổi thông tin và chuyên môn thì sẽ càng tốt.
Nhưng bất kể kết quả của hội nghị thượng đỉnh là thế nào, đã đến lúc áp dụng khuôn khổ rộng hơn, toàn diện hơn để đánh giá kết quả của ngoại giao giữa Mỹ và Triều Tiên. Nếu những gì xảy ra ở Hà Nội được đánh giá theo tiêu chí của quá khứ, thành công có thể bị nhầm lẫn với thất bại.

Powered by Blogger.