Hải Ngoại Ngày Nay


LIÊN KẾT HẢI NGOẠI YỂM TRỢ QUỐC NỘI ĐẤU TRANH

GIẢI THỂ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI VIỆT CỘNG

GIẢi TRỪ HIỂM HỌA XÂM LĂNG TRUNG CỘNG

2019 Sẽ Là Một Năm Có Nhiều Bất Trắc Trên Thế Giới

Saturday, December 29, 2018 // ,

2019 Sẽ Là Một Năm Có Nhiều Bất Trắc Trên Thế Giới
Vào dịp cuối năm của mỗi năm, các chuyên gia về kinh tế và chính trị trên thế giới đều đưa ra các dự đoán về tình hình thế giới cho năm tới, dựa trên các biến chuyển của những năm trước cũng như trong lịch sử. Cho dù đây chỉ là những lời tiên đoán, thế nhưng cũng có rất nhiều điều đáng lưu ý. Dưới đây là một số tiên đoán đầu tiên của Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược và Tình Hình Quốc Tế (Centre for Strategic & International Studies – CSIS) đăng trên trang báo điện tử news.com.au của Úc.
oOo
“Năm 2019 sẽ là một năm có nhiều biến chuyển không tốt trên thế giới,” một nhóm chuyên gia về chính trị và kinh tế quốc tế đã đưa ra lời khuyến cáo như trên. Năm 2019 sẽ có nhiều khó khăn, nhiều rủi ro lớn trước mắt – và khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương là trọng tâm.
Những sự kiện quan trọng đáng lưu ý:
  • Cuộc điều tra về sự liên hệ giữa Tổng Thống Donald Trump và Nga trong cuộc bầu cử chức vụ tổng thống Hoa Kỳ năm 2016 vừa qua.
  • Căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng.
  • Bất ổn dân sự.
  • Thiếu vắng nhân sự trong thành phần lãnh đạo của chính phủ.
  • Và căng thẳng giữa các thế hệ cũ và mới.
“Nói một cách dễ hiểu, chúng ta sẽ chóng mặt khi nhìn vào những bất ổn của năm 2019,” người đứng đầu nhóm nghiên cứu về viễn ảnh của thời cuộc, Samuel Brannen, đã viết trong bản tường trình. Và những bất ổn đó là điều quan tâm nhất của Brannen trong năm tới.
Sự Bất Ổn
Chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ và triển vọng kinh tế vĩ mô rất mù mờ vào năm 2019, ông Brannen viết. Và điều đó sẽ có ảnh hưởng không tốt trên toàn thế giới.
Tiếp theo đó, có triển vọng đưa đến sự mất giá của thị trường chứng khoán liên hệ đến cuộc  điều tra của Mueller về cuộc tranh cử chức vụ tổng thống Hoa Kỳ năm 2016 của ông Trump. Để dẫn chứng, ông Brannen đưa ra lời cảnh cáo: “Tham khảo lịch sử thì sẽ thấy: trong vụ Watergate, từ tháng 1 năm 1973 đến tháng 8 năm 1974, số cổ phiếu của thị trường chứng khoán đã mất 42 phần trăm giá trị của nó.”
Có thể nói đây là tất cả những yếu tố của cơn đại dịch bất ổn toàn cầu: “Rối loạn chính trị và kinh tế về Brexit, khủng hoảng nợ của Ý, tình trạng bất ổn dân sự và xuống dốc của tổng thống Pháp, một thủ tướng Đức bất lực không thể hoạt động hữu hiệu, và nhiều hơn nữa…”
Và ông đặt câu hỏi về khả năng liên tục của Hoa Kỳ trong việc ổn định tình hình của thế giới: “Sự trống vắng nhân sự của một số các vị trí cao cấp trong chính quyền của ông Trump và phản ứng với những bất ổn trong quá khứ – (chẳng hạn như) vụ giết ký giả Khashoggi – đã đặt ra câu hỏi quan trọng về phương pháp đối phó của Washington với một cuộc khủng hoảng thực sự.”
Tranh Giành Quyền Lực ở Khu Vực Ấn Độ-Thái Bình Dương
Hoa Kỳ và Trung Cộng đang ở trong tình trạng tranh chấp về chiến lược và kinh tế. Và tất cả  các quốc gia trong khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương chắc chắn sẽ bị lôi cuốn cuốn vào.
Brannen nói bây giờ là lúc các quốc gia trong khu vực phải chọn bên.
“Hoa Kỳ và Trung Cộng đang ngày càng yêu cầu các quốc gia trong khu vực lựa chọn giữa họ, theo chiều hướng của chủ nghĩa đa phương và hội nhập rộng lớn hơn.”
Ông nói rằng Tổng thống Trump không tham dự các hội nghị thượng đỉnh quan trọng trong khu vực đã dẫn đến “mối quan tâm sâu sắc” về việc cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực.
Về phần Trung Cộng, họ tiếp tục khẳng định chủ quyền qua các yêu sách lãnh thổ và các hoạt động xây dựng đảo ở Biển Đông, chính trị cưỡng chế của sáng kiến Vành Đai và Con Đường, và áp lực trên các vấn đề nội bộ và tiến trình dân chủ của các quốc gia láng giềng. “Tuy nhiên, không có câu hỏi nào trong khu vực rằng (ảnh hưởng của Trung Cộng) sẽ tồn tại lâu dài ở khu vực.”
Đó là lý do tại sao các quốc gia – gồm Nhật Bản và Singapore – đang cố gắng tìm cách sống bên cạnh người hàng xóm ngày càng hung hăng của họ, bằng cách khởi xướng các cuộc đàm phán và thăm viếng cấp cao.
Brannen đưa ra lời khuyên “Các đồng minh và đối tác của Hoa Kỳ trong khu vực phải tìm ra một ‘phương pháp sống chung hòa bình -  modus vivendi’ với Trung Cộng mà không dựa vào sự hiện diện và cam kết liên tục của Hoa Kỳ.”
Chiến Tranh “Xám”
Xung đột trực tiếp giữa các quốc gia là một khái niệm đáng sợ. Kỹ nghệ vũ khí hiện đại quá nhanh chóng, tàn bạo và hiệu quả. Và nguy cơ leo thang vũ khí hạt nhân là rất cao.
Vì vậy, các cường quốc cạnh tranh quyền lực trên thế giới đang tìm kiếm “chiến trường mới,” và cách chiến đấu mà không cần xuất hiện để chiến đấu.
Brennen viết “Nga, Trung Cộng, Iran và Bắc Hàn vẫn tiếp tục tham gia vào một loạt các hoạt động bí mật mập mờ giữa lằn ranh của chiến tranh và hòa bình, phủ nhận các thế mạnh truyền thống của Hoa Kỳ và các đồng minh. Các doanh nghiệp cũng như thường dân ngày càng bị lôi cuốn vào giữa lằn ranh của cuộc chiến này.”
Tung tin giả. Can thiệp vào bầu cử. Tấn công mạng. Gián điệp internet. Trói buộc nợ. Chiến binh đánh thuê. Lập căn cứ quân sự.
Brennen kết luận “Tây phương đã quá chậm chạp để nhận ra rằng những hành vi bất lợi này không phải là bất thường mà là một mô hình đồng nhất cho thấy địa lý chính trị sẽ diễn ra theo một bộ quy tắc mới,  hoặc không theo một quy tắc nào cả.”
Thay Đổi Thế Hệ
Năm 2019, số người thuộc Thế Hệ Mới (trong độ tuổi 23-38) sẽ vượt qua Thế Hệ Hậu Thế Chiến II “Thế Hệ Cũ” (55-77) là nhóm lớn nhất tại Hoa Kỳ. Đó là một sự thay đổi thế hệ trên hầu hết các các quốc gia Tây phương.
“Hậu quả có thể rộng lớn,” Brennen nói. “Khi hàng triệu người thuộc Thế Hệ Cũ đã qua tuổi nghỉ hưu truyền thống và hơn thế nữa, những người Mỹ trẻ tuổi ngày càng tự hỏi tại sao những người thuộc Thế Hệ Cũ vẫn là những người cầm quyền quyết định trong khi đang ở  thời điểm mà ít ai nghĩ rằng đất nước đang đi đúng hướng.”
Ông chỉ ra Thế Hệ Mới đã có những suy nghĩ rất khác, phần lớn bởi vì họ là thế hệ đầu tiên có tài chính kém hơn cha mẹ của họ.
“Cách tính toán rủi ro của họ liên quan đến hiện trạng sẽ khác với cách tính toán của người lớn tuổi.”
Thế Hệ Mới bày tỏ sự quan tâm nhiều hơn đối với sự tham gia quốc tế khi nói đến chính sách đối ngoại và có những lo sợ rất lớn cho tình trạng môi trường – và những tác động của nó.
Xe Hơi Sẽ Biến Mất Trên Thị Trường
Kỹ nghệ xe hơi của Úc đã đi theo con đường của con chim dodo (loại chim đã tuyệt chủng). Theo CSIS, ngày tuyệt giống chậm chạp này được thiết lập trên khắp thế giới.
“Giữa các phương tiện xe hơi chạy bằng điện, xe được tự động lái, cùng với việc có rất nhiều thứ sẽ bị thay thế bởi Internet của mọi thứ (Internet of Things) và nền kinh tế dựa trên dữ liệu, chiếc xe hơi như chúng ta biết sẽ không còn nữa,” ông Brannen kết luận.
Và điều đó đã dẫn đến một cuộc “chạy đua toàn cầu của ngành xe hơi”, với các đối thủ cạnh tranh mới, từ những hãng như Apple đến Waymo.
Nhưng đằng sau tất cả mọi thứ là sự thay đổi hành vi của người tiêu thụ.
“Bao nhiêu người trong lứa tuổi 20 không sở hữu một chiếc xe hơi và thực sự không muốn sở hữu một chiếc xe nào?” Các nhà sản xuất xe đang phải “tự sáng tạo lại” thành công ty chuyên chở, ông nói, khám phá các mô hình kinh doanh mới ngoài việc đơn giản là bán xe.
Sự căng thẳng của các nhà sản xuất xe rất mãnh liệt, Brannen nói, các cấp lãnh đạo của  công ty đang bị “tách ra khỏi ghế dưới áp lực”. Những người đứng đầu Nissan / Renault và Audi đã bị bắt trong năm qua, và Elon Musk, người gây nhiều tranh cãi của Tesla, bị Ủy ban Chứng Khoán và Giao Dịch điều tra.
Nguyễn Thứ Dân

Đại cường, Đại chiến lược: Cuộc chơi mới ở Biển Đông


Đại cường, Đại chiến lược: Cuộc chơi mới ở Biển Đông
Posted on 13/11/2018 by The Observer
Tác giả: Zhang Baohui | Biên dịch: Đinh Nho Minh
Great Powers, Grand Strategies: The New Game in the South China Sea. Anders Corr chủ biên. Annapolis, Maryland: The Naval Institute Press, 2018. Bìa cứng: 328 trang.
Biển Đông đã là trọng tâm của địa chính trị Châu Á kể từ khi Trung Quốc xây dựng bảy đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa trong giai đoạn 2013-2016. Quá trình bồi đắp của Trung Quốc đã gây lo lắng cho không chỉ các nước tranh chấp chủ quyền ở đây mà còn cả các cường quốc đối thủ khác. Vì vậy, chúng ta cần hiểu được sự cạnh tranh giữa các cường quốc đang ảnh hưởng đến tranh chấp Biển Đông như thế nào. Thế nên cuốn Great Powers, Grand Strategies: The New Game in the South China Sea [Đại cường, đại chiến lược: Cuộc chơi mới ở Biển Đông] do Anders Corr chủ biên được xuất bản ở một thời điểm rất hợp lí. Cuốn sách bao gồm các nghiên cứu về đại chiến lược của các cường quốc cũng như các khối quan trọng như ASEAN và Liên minh  Châu Âu.
Cuốn sách dành khá nhiều dung lượng để nói về Trung Quốc. Ngoài chương giới thiệu của Corr, ba chương khác, bao gồm của Bill Hayton, Ian Forsyth và James E. Fanell, đều phân tích động cơ chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông. Hai chương của Sean R. Liedman và Tonfi Kim tập trung vào chiến lược của Mỹ nhằm đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông. Ngoài ra, có ba chương về Nhật (viết bởi Takashi Inoguchi và Ankit Panda), Ấn Độ (viết bởi Gordon G. Chang) và Nga (viết bởi Stephen Blank). Cuối cùng, hai chương của Leszek Buszynski và Peter M. Solomon viết về chiến lược của ASEAN và Liên minh Châu Âu ở Biển Đông. Bernard D. Cole, một chuyên gia lâu năm về tình hình hải quân ở Châu Á, viết chương cuối để tổng kết cuốn sách.
Tất cả các chương của cuốn sách đều cung cấp những góc nhìn quan trọng về chính sách và chiến lược Biển Đông của các cường quốc, ASEAN và EU. Các chương sách này đều có nhiều dẫn chứng thực tế và phân tích rất chi tiết. Tóm lại, cuốn sách này có những đóng góp quan trọng cho nghiên cứu về chính trị và cạnh tranh của các cường quốc ở Biển Đông.
Tuy nhiên, cuốn sách này nên tiếp cận vấn đề đại chiến lược một cách có hệ thống hơn. Cuốn sách không có chương dành riêng cho việc xây dựng khung phân tích hoặc lý thuyết. Vì vậy, các chương đều không dựa trên một lý thuyết về đại chiến lược chung. Trên thực tế, rất ít chương cố gắng sử dụng khung lý thuyết về đại chiến lược để phân tích về nước trong chương đó.
Cuốn sách cũng nên sử dụng chủ nghĩa hiện thực trong Quan hệ Quốc tế để giải thích động cơ và lựa chọn của các cường quốc, từ đó diễn giải đại chiến lược của họ. Ví dụ, chủ nghĩa hiện thực tấn công cho rằng vì tình trạng vô chính phủ của hệ thống quốc tế, các cường quốc sẽ tìm cách thiết lập các vùng ảnh hưởng trong khu vực của họ để đảm bảo an ninh. Thực tế, chính việc các cường quốc tìm cách thiết lập ảnh hưởng trước hết trong khu vực rồi mở rộng ra toàn cầu giúp định hình đại chiến lược của họ. Lý thuyết về dịch chuyển quyền lực cũng có thể giúp giải thích động cơ cho đại chiến lược của các cường quốc. Lí thuyết này nhấn mạnh rằng các cường quốc đang lên có mục tiêu lâu dài là lập ra trật tự mới nên khó tránh khỏi xung đột với cường quốc số một, vì cường quốc này đang tìm cách bảo vệ vị trí và vùng ảnh hưởng của mình. Đại chiến lược ở đây liên quan đến việc tranh chấp quyền lực, địa vị và ảnh hưởng. Cuối cùng, chủ nghĩa hiện thực phòng thủ nhấn mạnh vai trò của tình trạng lưỡng nan an ninh trong việc định hình đại chiến lược của các cường quốc. Do bản chất vô chính phủ của hệ thống quốc tế, các quốc gia thường thổi phồng mối đe dọa an ninh từ các quốc gia khác. Vì vậy, các quốc gia thường dùng các yếu tố đối nội và đối ngoại để cân bằng lại những quốc gia được cho là đe dọa an ninh của họ. Điều này dẫn đến tình trạng các cường quốc tìm cách duy trì cân bằng quyền lực.
Các lý thuyết Quan hệ Quốc tế này nếu được cho vào đã có thể giúp cung cấp một khuôn khổ lý thuyết vững chắc để tìm hiểu chiến lược của các cường quốc ở Biển Đông. Thực tế, tranh chấp giữa các cường quốc ở Biển Đông hiện nay đều phản ánh các động lực được miêu tả trong chủ nghĩa hiện thực tấn công, thuyết dịch chuyển quyền lực và chủ nghĩa hiện thực phòng thủ. Chúng ta có thể coi cạnh tranh địa chính trị ở Biển Đông là kết quả của (a) cạnh tranh giành vùng  ảnh hưởng giữa các cường quốc, hoặc (b) tình trạng lưỡng nan an ninh dẫn đến nỗ lực cân bằng quyền lực giữa các cường quốc khi họ lo sợ lẫn nhau, hoặc do cả (a) và (b).
Nếu sử dụng hệ thống lý thuyết hoặc khung phân tích trong Quan hệ Quốc tế, cuốn sách chắc chắn sẽ cho một bức tranh rõ ràng hơn về “vấn đề đại chiến lược”. Vì không có hệ thống này, các chương trong quyển sách thường dựa vào các yếu tố rời rạc và tạm thời để làm rõ “đại chiến lược” của một cường quốc ở Biển Đông. Bản thân sự rời rạc và tạm thời của các yếu tố này đi ngược lại với cách tiếp cận đại chiến lược vì đại chiến lược thường tập trung vào một kế hoạch dài hạn, nhất quán của cường quốc đó.
Ví dụ, trong các chương về Trung Quốc, các tác giả nhấn mạnh nhiều yếu tố trong nước ảnh hưởng đến chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Những yếu tố này bao gồm chủ nghĩa dân tộc, bộ máy chính trị, các ý tưởng về quyền lịch sử và phản ứng với các nước tranh chấp chủ quyền khác. Tuy nhiên, tác giả chưa phân tích được logic chiến lược của việc Trung Quốc trỗi dậy cũng như ảnh hưởng của sự trỗi dậy này lên Biển Đông. Vì vậy, các chương này chưa giải quyết được câu hỏi: Đại chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông chính xác là gì?
Mặc dù có một số thiếu hụt về lý thuyết, cuốn sách vẫn có những đóng góp quan trọng cho văn liệu ngày càng mở rộng về nghiên cứu Biển Đông. Các chương của cuốn sách khi đứng một mình hay cạnh nhau đều cho bạn đọc một bức tranh tổng thể về chính trị cường quốc ở Biển Đông. Độc giả sẽ được hiểu thêm về tính toán chiến lược của các cường quốc có lợi ích chiến lược ở Biển Đông như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Nga.
Zhang Baohui là Giáo sư bộ môn Khoa học Chính trị và Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Châu Á Thái Bình Dương ở Đại học Lĩnh Nam, Hong Kong.
Nguồn bài điểm sách bằng tiếng Anh: Contemporary Southeast Asia, Vol. 40, No. 2 (2018), pp.

Powered by Blogger.